Thứ Ba, 9 tháng 11, 2021

“Đối thoại văn hóa” hiện đại



 1. Trong cuộc đối thoại mang tính toàn cầu thì “hiểu biết” luôn được nhấn mạnh, đề cao. Để tạo ra cuộc đối thoại, các bên tham gia đều phải có vốn tri thức sâu rộng về giao tiếp văn hóa, về lĩnh vực cùng quan tâm. Vì thế mà người đối thoại (nói và nghe) phải miệt mài học hỏi, phải “cắm rễ” rất sâu vào hai mạch nguồn văn hóa của dân tộc và nhân loại để hút lấy dưỡng chất văn hóa. Để hiểu, để vận dụng, để cắt nghĩa.

Ví dụ, bài thơ “Thần” tương truyền của Lý Thường Kiệt là thông điệp (đối thoại) gửi tới bọn xâm lăng phương Bắc, khẳng định sự độc lập tự chủ, tự cường của nước Nam. Chữ “đế” - linh hồn của bài thơ - phải được hiểu từ góc nhìn triết học văn hóa, tức cắt nghĩa từ phía cội nguồn sâu xa: Một là, từ quan niệm vũ trụ của người Trung Hoa cổ đại quan niệm có “tứ phương ngũ đế” tức bốn vị “đế” ở bốn phương trời: Phục Hi (phương Đông), Chuyên Húc (phương Bắc), Thiếu Hạo (phương Tây), Thần Nông (phương Nam), bốn vị này châu tuần quanh Trung ương Hoàng đế (hoàng nghĩa là màu vàng). Hai là, trong lịch sử, thế kỷ III trước công nguyên (TCN) cuối thời Chiến Quốc, nhà Tần thống nhất Trung Quốc, vua Tần xưng Hoàng Đế thì chữ “đế” cùng nghĩa với “ngũ đế” trong triết học, tức để gọi “trời”; chữ “hoàng” có nghĩa là vĩ đại, tươi sáng, rực rỡ. Như vậy “hoàng đế” của nhà Tần có nghĩa là vua của mọi vua, sánh ngang với trời, các nước xung quanh chỉ là “man di”. Hiểu như vậy sẽ thấy một chữ “đế” trong bài thơ “Thần” cực kỳ có ý nghĩa: “đế” nước Nam ta cũng vẻ vang, lớn lao khác gì Trung Hoa, cương phận thì sách trời đã phân… sao các người lại có ý đồ xâm phạm!? Rõ ràng đây là lời lẽ của sự khẳng định, của lòng tự hào, lời lẽ của sự cảnh tỉnh, ngăn chặn một ý đồ (với kẻ thù). Đồng thời còn là lời lẽ của sự cảnh giác, khích lệ tinh thần yêu nước, lòng tự tôn dân tộc (với dân ta). Nên nếu đánh giá bài thơ chưa có quan điểm nhân dân (mới có yếu tố “thần”) thì chưa nói đến bản chất đối thoại để khẳng định chủ quyền của một áng hùng văn.

Có thể hiểu bài thơ sâu hơn, hay hơn nhưng qua đó đủ để thấy hiểu văn, viết văn phải có triết học làm nền tảng. Trong tác phẩm “Lời than vãn của Bà Trưng Trắc”, tác giả Nguyễn Ái Quốc thật sự hiểu sâu từng “quẻ” trong Kinh Dịch mới có thể mỉa mai cực kỳ thâm thúy hình tượng Khải Định, cho rằng “mệnh” Khải Định tương ứng với quẻ Dương Cửu lên ở mức cao nhất (là vua) rồi sẽ tuột xuống thân phận thảm hại đớn hèn nhất (là nô lệ, tay sai).

Văn học cổ điển cả phương Đông lẫn phương Tây đều gọi những nhà văn lớn là “đại thụ”, chắc từ một sự liên hệ là cây xanh thì bao giờ cũng phải cắm rễ sâu vào đất để hút dinh dưỡng và vươn cao lá cành để quang hợp ánh sáng. Cây đại thụ văn học cũng vậy, cắm những nhánh rễ khỏe khoắn vào mảnh đất văn hóa truyền thống và được quang hợp ánh sáng tư tưởng của thời đại. Cây xanh khẳng khiu còi cọc như nhà văn non bấy chỉ có những trang viết nhợt nhạt vì thiếu dưỡng chất văn hóa và không có tư tưởng.

Nhà văn viết văn là một cách tham gia đối thoại sâu sắc nhất, với văn hóa truyền thống, với cuộc đời, với nhân vật, với độc giả (trong nước, ngoài nước) và với cả chính mình… Mà để có thể đối thoại thì phải có điều kiện đầu tiên là hiểu biết. Càng hiểu biết nhiều càng có cơ hội mở rộng lĩnh vực quan tâm và làm sâu các vấn đề đối thoại. Cho nên, phẩm chất trước hết của nhà văn thời hội nhập là giàu có tri thức. Vì là sứ giả văn hóa trong cuộc đối thoại toàn cầu nên nhà văn không chỉ hiểu biết rộng về văn hóa đương đại mà phải hiểu sâu văn hóa truyền thống dân tộc. Có vậy mới nắm chắc được bản sắc văn hóa của đất nước mình để tham gia vào cuộc đối thoại chung. Nếu không có điều này thì chẳng có gì để nói, vì người ta chỉ muốn biết cái nét riêng đặc sắc của nước mình. Đồng thời, nhà văn phải giỏi ít nhất một ngoại ngữ chính (tiếng Anh) để biết thế giới nghĩ gì, cần đối thoại gì… và để dịch chính tác phẩm của mình  đến với bạn đọc ngoài nước.

Nhà văn phải sống trong nhiều môi trường văn hóa, để so sánh, để học hỏi thì trang viết mới sâu, vì ngoài lượng thông tin bạn đọc còn chờ đợi ở tác giả sự gợi dẫn về cách đánh giá, lý giải ở nhiều góc độ khác nhau. Phải suốt đời cập nhật vốn sống, phải nhập thân vào đời sống, phải ngụp lặn xuống tận đáy dòng sông cuộc đời may ra mới viết đúng được bản chất vấn đề. Một lần về tát nước chống hạn ở Hà Đông, thấy một nhà báo ăn mặc chải chuốt, Bác Hồ nói: “Nhà báo của nông dân thì phải biết lao động như nông dân thì viết mới đúng được”(1). Đây là phương châm rèn luyện không của riêng người cầm bút nào.

Là những người đi tìm sự thật, nói lên sự thật nên nhà văn phải có phẩm chất dũng cảm. Khi tự mình “bẻ cong” ngòi bút cũng tức là đã tự “bẻ cong” lương tâm mình. Hết lòng yêu cuộc đời mà phanh phui mặt trái, vạch ra cái xấu, cái thấp hèn để mọi người nhìn thấy cùng lên án mà xa lánh, rời bỏ. Đấy cũng là cách xây dựng cho cuộc đời thêm tốt đẹp hơn.

2. Trong đối thoại thì tất cả đều bình đẳng, không ai hơn ai, không ai là kẻ lớn, kia là phận nhỏ, cũng không ai có quyền ép người này phải thế này, phải thế kia… Đối thoại văn hóa tối kỵ những câu mệnh lệnh thức hay cầu khiến… Trước một vấn đề đối thoại các bên đều có chính kiến, phản biện, bảo vệ… Các nền giáo dục tiên tiến hiện nay đang đi theo hướng này. Thầy giáo không bao giờ áp đặt trò phải hiểu, phải nghe lời mà chỉ có nhiệm vụ gợi mở hướng đi, gợi ý các cách hiểu chứ không có quyền kết luận chân lý. Tìm ra chân lý phải là trò. Nên họ rất coi trọng tự học, nhờ vậy một khi đã tìm được chân lý thì kiến thức sâu và vững.

Đối thoại giữa các nền văn hóa càng cần đến bình đẳng, vì xét từ bản chất thì tiếp biến văn hóa là lẽ tự nhiên. Không có nước lớn về văn hóa mà chỉ có sự đặc sắc về văn hóa, nhờ có sự đặc sắc ấy mà tạo nên ảnh hưởng. Truyện cổ “Trầu cau” không chỉ có ở một Việt Nam mà có ở hầu khắp các nước Đông Nam Á. Mô-tip chàng Thạch Sanh hay cô Tấm cũng có ở nhiều nước trên thế giới… Ngày nay người ta thấy thật dễ hiểu khi vở kịch “Hăm lét” của Sếchxpia có gốc gác từ Đan Mạch hay “Truyện Kiều” chịu ảnh hưởng cốt truyện từ Trung Quốc… Triết học văn hóa hiện đại không chấp nhận tư tưởng sô-vanh văn hóa, tư duy kẻ cả trong văn hóa cho rằng chỉ có văn hóa nước mình mới là “trung tâm” mới là “nhất”…

Vì không độc quyền chân lý nên không coi trọng kết luận cuối cùng mà nhiều khi gợi mở ra để mời gọi tiếp tục đối thoại. Sự quan tâm chú ý của các bên là sự mới mẻ, hấp dẫn của vấn đề, sự chính xác của dữ liệu, là cách lập luận, luận chứng, cách phản biện… của nhau. Do vậy, phải thật sự trí tuệ, phải thật hiểu vấn đề, và nhất là phải thật sự giỏi ngoại ngữ.

Bình đẳng được coi là điều kiện thứ nhất trong tiếp nhận văn học, vì là quá trình khám phá hình tượng nên rất cần đến nhiều con đường liên tưởng, tưởng tượng. Do vậy, nếu có sự áp đặt cách hiểu tức là bóp nghẹt các con đường tư duy ấy. Trước một hình tượng văn học, nhờ vốn sống, hiểu biết, tính khí… mà mỗi người hiểu một cách, cần tôn trọng các cách hiểu thẩm mỹ vì chúng sẽ làm giàu thêm ý nghĩa cho hình tượng. Trước khi có cách hiểu hồn nhiên mà không kém phần sâu sắc của một cậu bé bảy tám tuổi thì bạn đọc Nga vẫn thường hiểu nhân vật ông lão trong truyện “Ông lão đánh cá và con cá vàng” là người hiền lành phúc hậu, nên lấy đó làm gương. Nhưng cậu bé kia thì hiểu ngược lại cho rằng ông lão đần độn đến ngu xuẩn, có gì đáng học vì đã xin con cá được nhiều thứ thế mà không nghĩ ra được xin thay bà vợ tử tế hơn cho đỡ khổ… Nhiều khi cách hiểu hồn nhiên mới nói đúng về chân lý mà câu chuyện ngụ ngôn “Bộ quần áo mới của hoàng đế” là ví dụ sinh động. Vì quen là nô lệ cho thói nịnh hót, bợ đỡ mà chẳng ai dám nói lên sự thật, chỉ có cậu bé ngây thơ kêu toáng lên về cái hiện trạng thảm hại, đã giật phăng cả cái mặt nạ giả dối khổng lồ làm trơ ra cái đáng cười đau đớn… Các tác giả (Puskin và Anđecxen) thực sự là những nhà văn hóa vĩ đại vì có công xây dựng những hình tượng nghệ thuật bất hủ cho người đời sau còn đối thoại mãi với nhau để cùng hướng về cái trong sáng tốt lành.

3. Vì là đối thoại mang tính toàn cầu nên không có tiếng nói riêng sẽ khó được chấp nhận. Bản sắc văn hóa là những yếu tố độc đáo, đặc sắc biểu hiện nét đặc thù của một dân tộc. Bản sắc làm nên giá trị mà muốn đi tìm giá trị này lại thường phải dựa vào hệ tọa độ Chủ thể - Không gian - Thời gian, vì văn hóa luôn là sản phẩm của một chủ thể, diễn ra trong một không gian, thời gian cụ thể. Phạm trù chủ thể là cơ bản, chủ yếu vì mọi vấn đề đều thông qua, khúc xạ qua con người, và chỉ có con người chủ thể ở không gian nhất định mới có thể phần nào thấu hiểu ý nghĩa của văn hóa.

Nói đến giá trị là nói đến chuẩn mực. Mỗi dân tộc sở hữu những bản sắc văn hóa riêng tức những giá trị riêng, chuẩn mực riêng. Căn cứ vào đó để phân biệt văn hóa của dân tộc này khác với văn hóa của dân tộc khác. Người ta càng quý cái riêng vì đơn giản là có cái riêng mới có thể đối thoại, hội nhập. Một quy luật thông thường là người nói muốn nói và chỉ nên nói những điều mình biết, người nghe thì muốn được nghe/xem những điều mình chưa biết. Vì là đặc thù nên giá trị/chuẩn mực văn hóa của cộng đồng này chưa hẳn là giá trị/chuẩn mực của cộng đồng khác, có khi còn ngược lại. Do vậy, vội vã chê dân tộc kia là dã man, là thiếu văn minh… tức là đã sa vào thái độ sô-vanh văn hóa, thiếu tôn trọng, xa lạ với trào lưu học hỏi văn hóa lẫn nhau. Không thể có kiểu người phương Tây vốn quen với văn hóa du mục, con ngựa với họ là con vật gần gũi mà họ vẫn ăn thịt, lại đi chê bai dè bỉu một số dân tộc phương Đông là người của văn hóa nông nghiệp ăn thịt chó...

Mặt khác, mỗi nền văn hóa đều sản sinh những phong tục tập quán. Các điều kiện địa lý, đất đai, khí hậu, canh tác… lại quy định nội dung các phong tục tập quán này. Có phong tục ở dân tộc này là khác lạ, thậm chí là “quái lạ” so với dân tộc kia. Vì thế, cũng không thể đem cái nhìn, quan niệm sống của dân tộc này phán xét dân tộc kia là thế này, thế nọ, phải là thế này, không được là thế kia… Nguyên tắc căn bản của Folklore học yêu cầu phải giữ nguyên dạng các di sản văn hóa là xuất phát từ vấn đề cơ bản này. Các nền văn hóa đều có mục tiêu chung là vì con người, xem xét tính chất, tiêu chuẩn của mỗi nền văn hóa đều phải lấy con người làm thước đo.  Chúng ta cố gắng giữ gìn và phát triển nét riêng của mỗi nước và cùng học tập trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau. Nhiều nét riêng, nét hay mới làm nên bản sắc. Một đất nước giàu có bản sắc là đất nước đáng kính, đáng phục, đáng được kết bạn.

Giá trị luôn thay đổi theo thời gian, có giá trị ở thời này là chuẩn mực nhưng thời sau lại lạc hậu. Ví như hành động gắp thức ăn cho người khác là hành vi quan tâm lẫn nhau (biểu thị sự đoàn kết, gắn bó) ở cái thời mọi người sống trong một làng, những mối quan hệ quanh quẩn trong lũy tre. Nhưng ở ngày hôm nay giao lưu mở ra với cả thế giới thì hành động này cần loại bỏ vì có khi lại là nguyên nhân dẫn đến sự truyền nhiễm nhanh chóng các vi khuẩn gây bệnh.

Văn hóa học có khái niệm “tự điều chỉnh”, tức văn hóa tự thân nó sớm muộn sẽ có sự thay đổi để thích ứng với xã hội, nhưng có sự tác động của thể chế tiến bộ (như văn bản luật, quy định…) thì sự điều chỉnh sẽ nhanh hơn, đúng hướng hơn.

Cần có cái nhìn văn hóa trước các hiện tượng văn hóa gây tranh luận, không cực đoan bảo thủ khẳng định đó là truyền thống tốt đẹp, cũng không phủ nhận sạch trơn. Phải phân tích, cắt nghĩa lí giải một cách hệ thống, cụ thể để giữ lấy cái lõi nhân văn, gạt bỏ cái lỗi thời. Văn hóa là con người, hãy để chủ thể con người nơi đó nói lên tiếng nói của văn hóa nơi họ đang sinh tồn. Và hãy quan sát, suy ngẫm, đối sánh, gợi mở cho chủ thể văn hóa điều chỉnh hành vi văn hóa cho phù hợp với thời đại mới. Mọi áp đặt hoặc can thiệp thô bạo là không phù hợp với tinh thần mềm mại, uyển chuyển và tinh tế của văn hóa.

4. Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà văn hóa kiệt xuất, đi trước thời đại khi chính mình là người thể hiện văn hóa biết lắng nghe người khác, đặc biệt hơn nữa là lắng nghe tiếng nói của trẻ em.

Đồng chí Lê Duẩn, nguyên Tổng Bí thư Đảng ta nhiều lần nhắc nhở cán bộ học tập Bác Hồ thì trước hết là học tình yêu thương con người ở Bác từ những việc cụ thể. Ví như một lần đồng chí trực tiếp chứng kiến một đêm mưa rét Bác nghe thấy tiếng rao bán bánh của một đứa trẻ, đang nằm Người ngồi bật dậy, thế rồi suốt đêm trằn trọc thao thức, chắc là Người thương lắm những số phận còn đang phải chịu nhiều vất vả khổ đau...

Giáo sư Hoàng Xuân Sính nhớ mãi một kỷ niệm, khoảng năm 1945-1946, khi nước nhà vừa mới độc lập, Bác Hồ đến thăm trường nữ trung học ở Hà Nội. Bác vào lớp dự giảng một tiết tiếng Anh. Vì hồi hộp nên cô học trò Sính phát âm không chuẩn. Bác đến gần đọc lại những câu trong bài, Sính đọc theo vẫn không đúng. Bác kiên trì chữa lại từng âm. Người nhẹ nhàng nói: “Cháu đọc thế này mới đúng”. Và câu chuyện “Chiếc vòng bạc” trong sách phổ thông thì ai cũng nhớ. Một lần ông Ké (tức Bác Hồ) được nghe một cháu bé ao ước có một cái vòng bạc. Năm sau ông Ké trở về đưa cho cháu bé ấy cái vòng bạc mà cháu hằng ước ao. Ai cũng có thể hình dung ra sự sung sướng vô bờ của cháu bé ấy và sự cảm phục kính trọng vô ngần của dân bản về một hành động tuy nhỏ mà ý nghĩa cực lớn của ông Ké. Bác Hồ của chúng ta là thế. Bác đã chứng minh chân lý: phải là một tâm hồn giàu yêu thương, giàu lòng trắc trắc ẩn, khoan dung và luôn tôn trọng con người mới có thể biết lắng nghe lòng con trẻ…

Biết lắng nghe là một hành vi văn hóa cao thượng trong xã hội hiện đại vì nó thể hiện rõ nhất tinh thần dân chủ, bình đẳng giữa người với người. Cả thế giới nghiêng mình trước một Hồ Chí Minh kiệt xuất, vì trên cả sự lắng nghe trẻ em nói là sự thực hành điều trẻ em muốn, mà hình ảnh chiếc vòng bạc, là cách rèn phát âm cho trẻ đã dẫn ở trên là những ví dụ cụ thể nhất.

Nhưng biết lắng nghe là cả một năng lực văn hóa bởi về bản chất đấy là một quá trình tiếp nhận. Do vậy, phải có vốn sống, vốn tri thức, chính trị… để phân tích, tiếp nhận, loại bỏ, phản biện. Cho nên từ cổ xưa người phương Đông sâu sắc dồn triết lý ấy vào con chữ tượng hình, chữ “Thính” trong tiếng Hán có nghĩa là “nghe” được cấu thành (chiết tự) bởi các chữ mang các ý nghĩa: Vương (coi người nghe mình như vua); Nhĩ (khi nghe phải lắng tai chăm chú); Nhãn (khi nghe phải nhìn người nói thể hiện sự chú ý, tôn trọng); Tâm (nghe bằng cả tâm trí); Nhất (cả người nói và người nghe phải đồng nhất, đồng hướng). Ngày nay thế giới coi một biểu hiện của khoan dung hòa giải văn hóa là biết lắng nghe nhau!

Nhà thơ - Nhạc sỹ Nguyễn Đình Thi kể, trong không khí bừng sôi thắng lợi của Đại hội Tân Trào tháng 8/1945 đã hát rất say sưa để “cố gắng nhằm truyền cảm mạnh nhất đến toàn thể các đại biểu. Tôi hát to: “Gươm đâu, gươm đâu, thời cơ đang đến! Tiến lên, tiến lên, theo cờ Việt Minh!”. Tôi hoàn toàn không biết rằng Hồ Chủ tịch đang chăm chú lắng nghe tiếng hát của tôi. Khi vừa hát xong, tôi bỗng nghe rõ tiếng Hồ Chủ tịch: “Bây giờ mà chú còn hát gươm đâu, gươm đâu thì thật không hợp với tình hình! Chú nên hát gươm đây, gươm đây!”(2).

Ví dụ này cho thấy phải có một nhãn quan chính trị cực kỳ sắc bén mới có một phát hiện vỏ âm thanh của ngôn từ dù nhỏ nhưng ý nghĩa biểu hiện lại rất lớn.

Theo Mác, các triết học đều nghiên cứu về con người, triết học văn hóa tập trung nghiên cứu về con người văn hóa, một phạm trù rất rộng, trừu tượng nhưng cũng rất gần gũi, cụ thể. Đối thoại văn hóa chỉ là một đơn vị kiến thức nhỏ mà thôi./.

PGS. TS. Nguyễn Thanh Tú

_________________________

(1) Hồ Chí Minh - Chân dung đời thường, Nxb. Lao động, H, 2005, tr.101.

(2) Hồ Chí Minh với văn nghệ sĩ - Văn nghệ sỹ với Hồ Chí Minh, Nxb. Hội Nhà văn, H, 2010, t.1, tr.41.

TPHCM, 10/11/2021

TRƯƠNG HOÀNG LONG SƯU TẦM GIỚI THIỆU

Thứ Sáu, 5 tháng 11, 2021

CẤU TRÚC ĐỐI THOẠI TRONG TRUYỆN NGẮN BẾN QUÊ CỦA NGUYỄN MINH CHÂU.

  


                                                                        

I. Đặt vấn đề
Giai đoạn đầu những năm 1980, nhu cầu đối thoại trở thành một nhu cầu bức thiết trong đời sống xã hội đặc biệt là đời sống văn chương. Người ta có xu hướng muốn chống lại thứ văn chương độc thoại, văn chương một giọng để đến với hình thức văn chương đa thanh, chống lại thứ văn học “phải đạo”, “giáo điều” để đến với thứ văn học đa diện đặc biệt là đa nghĩa, đến gần hơn với hiện thực đời sống. Truyện ngắn Bến quê được Nguyễn Minh Châu công bố năm 1985 cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Trong cấu trúc tác phẩm, chúng tôi thấy biểu hiện của cấu trúc đối thoại ở các phương diện như: điểm nhìn và sự di chuyển điểm nhìn, nhiều lời văn hai giọng, nhiều tiếng nói cùng vang lên trong tác phẩm…
II. Nội dung
1. Lý thuyết đối thoại của M. Bakhtin
1.1. M. Bakhtin (1895 - 1975) là nhà triết học, nhà mĩ học, nhà nghiên cứu văn học lỗi lạc của nước Nga - Xô Viết. Dù cuộc đời nhiều thăng trầm song ông đã để lại cho nhân loại những trang viết làm thay đổi nhận thức con người trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Một số công trình lớn của Bakhtin là Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki; Những vấn đề văn học và mĩ học, … Các công trình của ông đặt ra hàng loạt những vấn đề về kí hiệu học văn học, về nội dung và hình thức, thi pháp học lịch sử, thi pháp học tác giả, lí luận về tiểu thuyết, lí luận về ngôn từ văn học, lí luận về tác giả…
1.2. Trong cuốn Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki, Bakhtin nhận xét: “Chân lí không nảy sinh và không nằm trong đầu một con người riêng lẻ, nó nảy sinh giữa những con người đang cùng nhau đi tìm chân lý và trong quá trình giao tiếp đối thoại với nhau” [1, 120]. Điều này trái với nhiều quan điểm xưa nay về việc đi tìm chân lý và đặc biệt là về người nắm giữ chân lý. Trong văn học, hiện tượng thường thấy: tác giả (thường được hóa thân vào hình tượng người kể chuyện) cũng là người nắm giữ chân lý, chân lý dường như đã có sẵn. Trong truyện kể, nhân vật này sẽ miêu tả và phán xét thế giới và các nhân vật khác theo tín điều mà anh ta đã xác lập. Người kể chuyện trong trường hợp này có uy quyền tuyệt đối. Nó dẫn đến việc người kể chuyện thường xuyên nói về nhân vật chứ không phải nói với nhân vật. Ví dụ, trong các truyện cổ tích, người kể chuyện thường là người kể chuyện toàn tri/ biết tuốt. Anh ta kể về các nhân vật khác trong thế giới cổ tích đó với vị thế của người nắm vững lẽ phải. Anh ta khen nhân vật này, chê nhân vật kia từ vị thế đó. Chuyện phải/ trái; đúng/ sai đã rõ ràng, không có đối thoại hay tranh luận giữa các quan điểm. Do đó, số phận con đường đời của nhân vật sẽ được xác định theo quy luật nhân - quả.
Liên quan đến vấn đề ngôn ngữ trong đối thoại, Bakhtin cho rằng: “Ngôn ngữ chỉ sống trong sự giao tiếp đối thoại giữa những người sử dụng ngôn ngữ. Sự giao tiếp đối thoại chính là lĩnh vực đích thực của đời sống ngôn ngữ” [1, 191]. Điều này khác với quan điểm nghiên cứu ngôn ngữ như là ngôn ngữ cứng đơ, đã bị tách rời với đời sống giao tiếp. Những quan sát của Bakhtin khi đọc các tác phẩm của Đôxtôiepxki cho thấy thường xuyên có sự xâm nhập của ngôn từ người khác vào ngôn từ của một chủ thể, tạo thành tính đối thoại bên trong của phát ngôn đó. Hiểu như vậy, khái niệm “đối thoại” ở đây không phải là khái niệm đối thoại mà ta thường thấy trong ngôn ngữ học. Đối thoại trong ngôn ngữ học thường chỉ giới hạn trong phạm vi lời hỏi, đáp thường được ghi vào trong ngoặc kép hoặc sau cái dấu gạch đầu dòng. Đối thoại trong quan điểm của Bakhtin là thái độ của ý thức, tư tưởng, biểu hiện qua sự đồng tình, phản đối, khẳng định, phủ định, hoài nghi, giễu nhại, nhại lại.
1.3. Tính đối thoại trong văn học được biểu hiện ở hai hình thức cơ bản là tiểu thuyết đa thanh và lời văn hai giọng:
- Tiểu thuyết đa thanh/ tiểu thuyết phức điệu đối lập với dạng tiểu thuyết độc thoại. Nếu như tiểu thuyết độc thoại/ đơn thanh là dạng tiểu thuyết miêu tả thế giới qua sự độc tôn duy nhất của ý thức của tác giả/ người kể chuyện thì tiểu thuyết đa thanh là dạng tiểu thuyết đề xuất một lập trường nghệ thuật mới của tác giả trong quan hệ với các nhân vật của mình: đó là lập trường đối thoại, khẳng định tính độc lập, tự do bên trong của nhân vật, về căn bản nó không phục tùng sự đánh giá một chiều và hoàn tất từ phía tác giả. Lời tác giả về nhân vật được tổ chức như là lời nói về một người đang có mặt, đang nghe tác giả nói và có thể đáp lại tác giả. Do đó, nhân vật có thể bác bỏ cách nhìn nhận định sẵn về mình. Ý thức nhân vật như một cấu trúc mở, chưa được hoàn tất. Mở rộng ra, chính tính độc lập ngang hàng với tác giả này đã tạo ra cấu trúc đa thanh cho tiểu thuyết. Trong công trình của mình, Bakhtin cho rằng, tiểu thuyết của L. Tônxtôi là điển hình cho dạng tiểu thuyết độc thoại còn những tác phẩm của Đôxtôiepxki là điển hình cho dạng tiểu thuyết đa thanh.
- Kiểu lời văn hai giọng bao gồm lời phong cách hóa, lời nhại, lời nửa trực tiếp… Đó là những lời kể vừa hướng vào tái hiện đối tượng lại vừa đối thoại ngầm với lời người khác ngoài đối tượng hoặc đối thoại ngầm với chính đối tượng.
Lời phong cách hóa là lời trần thuật bằng giọng người khác mà khuynh hướng nghĩa cùng chiều với giọng ấy, để tạo sắc thái, không khí cá thể. Ví dụ, trong Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, có những đoạn người kể chuyện trần thuật bằng giọng của nhân vật để tạo ra sắc thái, không khí riêng mang đậm chất núi rừng Tây Bắc:  “Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi. Bây giờ Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa, là con ngựa phải đổi ở cái tàu ngựa này đến cái tàu ngựa nhà khác, ngựa chỉ biết việc ăn cỏ, biết đi làm mà thôi”.
Lời văn nhại là lời nói bằng giọng người khác có đưa vào đó một khuynh hướng nghĩa đối lập hẳn với khuynh hướng của lời người đó. Ví dụ, trong truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao, sau khi bán con chó vàng, lão Hạc rất đau khổ nên ông giáo tìm cách an ủi: “Ta giết nó chính là hóa kiếp cho nó đấy, hóa kiếp để cho nó làm kiếp khác”. Lão Hạc dùng lời đó nhưng mang vào đó một ý nghĩ tủi cực, chua cay: “Kiếp con chó là kiếp khổ thì ta hóa kiếp cho nó để nó làm kiếp người, may ra có sung sướng hơn một chút… kiếp người như kiếp tôi chẳng hạn!...”.
Lời nửa trực tiếp là lời của người kể chuyện với lời lẽ ý nghĩ, ngữ điệu của nhân vật nhằm bộc lộ nội tâm nhân vật. Ví dụ: Đoạn văn trong Chí Phèo của Nam Cao: “Tức thật! Ờ! Thế này thì tức thật! Tức chết đi được mất! Đã thế hắn phải chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn (…) Mẹ kiếp! Thế thì có phí rượu không? Thế thì có khổ hắn không? Không biết đứa chết mẹ nào lại đẻ ra thân hắn cho hắn khổ đến nông nỗi này? A ha! Phải đấy, hắn cứ thế mà chửi, hắn cứ chửi đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn, đẻ ra cái thằng Chí Phèo!”. Ở đây vẫn là lời của người kể chuyện nhưng ẩn bên trong đó, người ta thấy trạng thái nội tâm nửa tỉnh nửa say, bức bối, đau đớn của nhân vật Chí Phèo.
2. Cấu trúc đối thoại trong truyện ngắn Bến quê của Nguyễn Minh Châu
2.1. Biểu hiện đầu tiên trong cấu trúc đối thoại trong truyện Bến quê, đó chính là việc có nhiều tiếng nói cùng vang lên.
Ngay ở phần đầu tác phẩm, chúng ta đã thấy điều ấy:
Ngoài cửa sổ bấy giờ những bông hoa bằng lăng đã thưa thớt – cái giống hoa ngay khi mới nở, màu sắc đã nhợt nhạt. Hẳn có lẽ vì đã sắp hết mùa, hoa đã vãn trên cành, cho nên mấy bông hoa cuối cùng còn sót lại trở nên đậm sắc hơn. Ừ cũng chả phải, Nhĩ vừa ngồi để cho vợ bón từng thìa thức ăn vừa nghĩ, chính vì thời tiết đã thay đổi, đã sắp lập thu rồi.
Ở đây, chúng ta thấy những tiếng nói bên trong con người Nhĩ cùng vang lên: Một bên là tiếng nói của một người bệnh bên bờ vực của cái chết và một bên là con người đời thường với lí trí mạnh mẽ. Tiếng nói của một người bệnh nặng khiến Nhĩ dễ dàng nhận ra màu sắc bất thường của bông hoa bằng lăng bên cửa sổ - cái giống hoa mới nở đã nhợt nhạt, thế mà lúc này lại trở nên đậm sắc. Phải chăng đó là những bông hoa cuối cùng trước khi tàn lụi hẳn giống như sự sống của Nhĩ, rồi sẽ bùng lên trước khi tắt hẳn. Ám ảnh về cái chết và dự cảm về tương lai khiến nhân vật tìm ra khía cạnh đặc biệt của sự vật mà ngày thường có lẽ không khi nào anh để ý. Tuy nhiên, chính trong lúc nỗi buồn bã và sự tuyệt vọng xâm chiếm Nhĩ thì con người đời thường với lí trí mạnh mẽ và tỉnh táo của anh lên tiếng, nó vội vàng phủ nhận “ừ, cũng chả phải”. Nó nói với Nhĩ rằng, chẳng qua lúc này thời tiết đã thay đổi, đã sắp lập thu rồi nên những bông hoa mới thế. Nó kéo Nhĩ ra khỏi những suy nghĩ lan man để trở về với thực tại. Tất nhiên, điều này chỉ có thể vượt qua trong thoáng chốc vì dõi theo tác phẩm, ta lại thấy màu sắc bất thường của hoa bằng lăng, “màu tím thẫm như bóng tối” lại hiện ra ở phần sau báo hiệu cho sự kết thúc của sự vật và cả con người.
Trong suốt câu chuyện, những tiếng nói không ngừng vang lên để định vị thế giới. Ngày thường, con người đời thường vô tư và vô tâm của Nhĩ kiểm soát mọi thứ nhưng nay, khi bệnh đã quá nặng, nó buộc Nhĩ phải sống chậm rãi và sâu sắc hơn, có một con người khác với một tiếng nói khác đã hiện ra. Biết bao điều lần đầu tiên Nhĩ mới thấy. Và tiếng nói của một con người của gia đình, đầy yêu thương và trách nhiệm nói với anh những điều mà mấy chục năm qua anh không biết. “Lần đầu tiên Nhĩ để ý thấy Liên mặc tấm áo vá”, cũng lần đầu tiên, anh thấy “càng lớn thằng con anh càng có nhiều nét giống anh”. Những điều tưởng như giản đơn, thậm chí nhỏ nhặt ấy chưa bao giờ anh nhận ra. Bởi tiếng nói của một người chồng, một người cha đầy yêu thương và có trách nhiệm không có cơ hội vang lên. Trong những ngày cuối cùng của cuộc đời này, khi nó vang lên, chắc hẳn Nhĩ không khỏi có cảm giác xót xa, ân hận và nuối tiếc.
2.2. Cấu trúc đối thoại của truyện ngắn Bến quê còn chứa nhiều lời văn hai giọng. Lời văn hai giọng có thể nhận thấy trong những lời nửa trực tiếp. Trong đoạn văn đầu tiên mà chúng tôi đã trích, lời nửa trực tiếp biểu hiện rõ nét ở những cách diễn đạt như “hẳn có lẽ vì”, “ừ cũng chả phải”… Như vậy, ở đây có sự pha trộn giữa lời người kể chuyện và lời nhân vật. Và trong tác phẩm, không khó để tìm dạng lời nửa trực tiếp như vậy. Dưới đây là một dạng khác của lời văn hai giọng: lời tranh luận ngầm.
Trong đối thoại giữa Nhĩ và vợ, chúng ta thấy ý thức tranh luận ngầm rất rõ: Khi ám ảnh về cái chết trở nên thường trực trong ý thức của Nhĩ, từng lời của anh đều gợi nhắc đến điều ấy. Anh hỏi Liên về bờ đất lở:
– Đêm qua, lúc gần sáng em có nghe thấy tiếng gì không?
Khi Liên giả vờ không nghe câu chồng vừa hỏi, anh lại tiếp tục:
 – Hôm nay đã là ngày mấy rồi em nhỉ?
Liên chỉ âu yếm vuốt ve bên vai chồng:
 – Anh cứ yên tâm. Vất vả, tốn kém đến bao nhiêu em với các con cũng chăm lo cho anh được.
Nhìn bề mặt câu trả lời của Liên có vẻ không liên quan gì đến câu hỏi của chồng nhưng chính trong đó chứa đựng ý thức tranh luận ngầm. Tiếng bờ đất lở cùng với cơn lũ đổ về là báo hiệu cho một sự đổi dời ghê gớm, một sự mất mát. Liên chống lại những suy nghĩ tiêu cực như thế. Người phụ nữ ấy vừa an ủi chồng, vừa biểu hiện của một lòng quyết tâm vô hạn: dù thế nào cô cũng chăm lo cho anh được. Kể cả khi Nhĩ hối hận vì:
- Suốt đời anh chỉ làm em khổ tâm… mà em vẫn nín thinh.
Liên cũng không trả lời trực tiếp vào câu hỏi mà tiếp tục đấu tranh với suy nghĩ bi quan trong đầu người chồng. Có thể nói, những lời tranh luận ngầm của Liên với chồng đã cho thấy tình yêu thương, đức hi sinh cũng như sự tinh tế của một người vợ. Nó càng khơi sâu thêm nỗi đau đớn, ân hận về một “bến quê” rất gần, rất bình dị mà cả đời Nhĩ đã lãng quên.
2.3. Một biểu hiện nữa dễ nhận thấy trong cấu trúc đối thoại của Bến quê là vấn đề điểm nhìn và sự di chuyển điểm nhìn trong tác phẩm.
Trong truyện ngắn này, Nguyễn Minh Châu đã chọn được những điểm nhìn rất đặc sắc giúp người đọc hình dung và kiến tạo câu chuyện. Câu chuyện chủ yếu được kể qua điểm nhìn của nhân vật Nhĩ, một con người ốm yếu, đang đối mặt với cái chết. Đây là một lựa chọn có chủ ý vì một con người trong một hoàn cảnh như vậy bao giờ cũng quan sát mọi thứ một cách rất cẩn trọng, điềm tĩnh. Việc lâm vào tình huống không thể tự phục vụ sẽ khiến cảm xúc của họ thường xuyên bị xáo trộn. Quan trọng hơn, một người như vậy cũng sẽ là một người điềm tĩnh, chi chút những điều giản dị mà đẹp đẽ của đời sống. Nó phù hợp với việc thể hiện tư tưởng chủ đề của tác phẩm.
Có lúc, qua điểm nhìn của Nhĩ, ta hình dung được một bức tranh về bờ bãi sông Hồng qua khung cửa sổ nhà anh: “Bên kia những hàng cây bằng lăng, tiết trời đầu thu đem đến cho con sông Hồng một màu đỏ nhạt, mặt sông như rộng thêm ra. Vòm trời cũng như cao hơn. Những tia nắng sớm đang từ từ di chuyển từ mặt nước lên những khoảng bờ bãi bên kia sông, và cả một vùng phù sa lâu đời của bãi bồi ở bên kia sông Hồng lúc này đang phô ra trước khuôn cửa sổ của gian gác nhà Nhĩ một thứ màu vàng thau xen với màu xanh non – những màu sắc thân thuộc quá như da thịt, hơi thở của đất màu mỡ”.
Qua điểm nhìn của Nhĩ, độc giả biết đến những điều mới mẻ, tuy giản dị những không khỏi khiến ta giật mình:
“Nhĩ nghĩ một cách buồn bã, con người ta trên đường đời thật khó tránh được những cái điều vòng vèo hoặc chùng chình (…) Họa chăng chỉ có anh đã từng trải, đã từng in gót chân khắp mọi chân trời xa lạ mới nhìn thấy hết sự giàu có lẫn mọi vẻ đẹp của một cái bãi sông Hồng ngay bờ bên kia, cả trong những nét tiêu sơ, và cái điều riêng anh khám phá thấy giống như một niềm say mê pha lẫn với nỗi ân hận đau đớn, lời lẽ không bao giờ giải thích hết”.
Đưa câu chuyện vào một điểm nhìn của một con người đã đi không sót một xó xỉnh nào trên trái đất để rồi cuối đời khi không còn đi được nữa, mới xót xa, ân hận vì còn cái bờ bên kia sông Hồng - vẻ đẹp thật gần gũi nhưng lúc này sao mà xa cách để tạo nên một xung đột không thể nào giải quyết được. Nhìn từ góc độ này, chúng ta mới thấy một sự chuyển hướng triệt để trong xây dựng cốt truyện của Nguyễn Minh Châu sau chiến tranh. Không còn xung đột địch – ta, bi kịch không phải do những yếu tố bên ngoài ta, bi kịch đến từ chính sự lựa chọn của ta trong cuộc đời. Khi còn khỏe mạnh, Nhĩ đã đi khắp nơi, làm tất cả những điều mình thích. Nhưng đã khi nào Nhĩ dành nhiều sự quan tâm cho những điều thân thuộc xung quanh, trong đó có gia đình anh? Chỉ khi phải ngồi một chỗ, để cho vợ phải chăm sóc từ những điều nhỏ nhất, anh mới nhận ra sự hi sinh nhẫn nại của vợ mình, nhận ra con anh giống anh đến thế. Nhưng để mà làm gì? Quá muộn màng. Vì vậy, khi có những ý kiến so sánh Bến quê với truyện cực ngắn Làng gần nhất của F. Kafka, chúng tôi cho là khá hợp lý. Tất nhiên, trong sự so sánh ấy, chúng ta thấy có sự khác biệt. Ở đây, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến cách Nguyễn Minh Châu xử lí cốt truyện. Trong truyện cực ngắn của Kafka, người ta nhận ra một sự an bài, một sự chấp nhận còn trong truyện của “người mở đường tinh anh và tài năng” của Văn học Việt Nam trước Đổi Mới, người ta nhận ra một sự quẫy đạp, quẫy đạp trong đau đớn nhưng bất thành. Vì vậy, những chữ như “thì ra”, “chỉ” trong câu “Thì ra thằng con trai của anh chỉ mới đi được đến hàng cây bằng lăng bên kia đường” là chữ của Nhĩ. Nó thể hiện cảm giác sốt ruột của một con người đang sai một “thiên sứ” đi thực hiện một công việc gấp rút. Song “thiên sứ” cũng như anh trước kia, lại sà vào một đám người chơi phá cờ thế bên hè phố mà quên mất nhiệm vụ chính của mình. Do đó, trong nỗ lực cuối cùng của mình, Nhĩ thực hiện ước nguyện bằng tưởng tượng. Anh tưởng như chính mình trong tấm áo màu xanh trứng sáo và chiếc mũ nan rộng vành, giống như một nhà thám hiểm đang chậm rãi đặt từng bước chân lên cái mặt đất dấp dính phù sa. Nó khiến Nhĩ có một sự phấn khích kì lạ. Hình ảnh ấy khiến người ta liên tưởng tới lò than trước khi tàn, nó đỏ rực lên: “Hai mắt long lanh chứa một nỗi mê say đầy đau khổ, cả mười đầu ngón tay Nhĩ đang bấu chặt vào cái bậu cửa sổ, những ngón tay vừa bấu chặt vừa run lấy bẩy”.
Trong tác phẩm, có sự di chuyển một cách linh hoạt giữa điểm nhìn của người kể chuyện, điểm nhìn của Nhĩ, điểm nhìn của Liên… Điểm nhìn của Liên: Liên đặt tay vào sau phiến lưng “đã có nhiều mảng da thịt vừa chai cứng vừa lở loét của Nhĩ”. Điểm nhìn của Nhĩ: “Nhĩ còn nghe tiếng vợ đi lại dọn dẹp và dặn dò con điều gì đó. Liên hãm nước thuốc ở cái siêu đất ra chiếc bát chiết yêu, Nhĩ đoán thế”, “Rồi Liên đi xuống thang, vẫn cái tiếng bước chân rón rén quen thuộc suốt cả một đời người đàn bà trên những bậc gỗ mòn lõm”. Điểm nhìn của người kể chuyện: “Anh con trai đánh trần ngồi tựa vào bức tường đầu cầu thang, tay nhặt rau muống, mắt cúi xuống một cuốn sách truyện dịch”. Sự di chuyển linh hoạt của các điểm nhìn giúp độc giả có nhiều góc khác nhau để quan sát thế giới nghệ thuật trong tác phẩm. Nó cũng là cơ hội để người nghệ sĩ đi sâu vào tâm lí nhân vật. Từ đây, hình tượng con người trong tác phẩm hiện lên đa diện. Những hình tượng ấy không chịu một cái nhìn phán xét duy nhất của một nhân vật toàn tri nào đó. Nó tự nói về mình. Nó là những nhân vật chưa hoàn kết.
III.   Kết luận
 Như vậy, chọn nhan đề Bên quê cho tác phẩm, Nguyễn Minh Châu đã gợi cho người đọc ý thức đối thoại. Dường như lâu nay, mọi người trong đó có cả những nhà văn đã vội vã chạy theo những điều to tát, xa xôi mà quên mất những vẻ đẹp nhỏ bé, thân thương ở xung quanh mình. Truyện ngắn này, vì thế, khiến độc giả suy nghĩ, trăn trở. Nhìn rộng ra, ý thức đối thoại của Nguyễn Minh Châu còn được biểu hiện qua hàng loạt tác phẩm được ông viết trong những năm sau 1975 như Bức tranh; Chiếc thuyền ngoài xa; Khách ở quê ra; Cỏ lau; Phiên chợ Giát… Chính cảm hứng đối thoại ấy đã khơi nguồn cho những tác phẩm xuất sắc sau Đổi Mới của các nhà văn như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh…

Tài liệu tham khảo
1.M.Bakhtin (1998), Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki, Nxb Giáo dục
2.Nguyễn Thị Bình (2007), Văn xuôi Việt Nam 1975-1995, những đổi mới cơ bản, Nxb Giáo dục
3. Nguyễn Minh Châu (2009), “Bến quê”, Ngữ văn 9, Tập 2, Nxb Giáo dục
4. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2007), Từ điển  thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục.
5. Nguyễn Văn Long (2009), Văn học Việt Nam sau 1975 và việc giảng dạy trong nhà trường, Nxb Giáo dục.
(Bài đăng trong Kỷ yếu hội thảo khoa học toàn quốc Nghiên cứu và giảng dạy Ngữ văn trong bối cảnh đổi mới và hội nhập, tháng 11/ 2017, tr. 99-103).
TPHCM, 05/11/2021
TRƯƠNG HOÀNG LONG SƯU TẦM VÀ GIỚI THIỆU

Thứ Sáu, 29 tháng 10, 2021

"CON GIAI PHỐ CỔ" CỦA NGUYỄN VIỆT HÀ – MỘT GÓC NHÌN THẲNG VỀ HÀ NỘI

 



1.   MỞ ĐẦU

Trước khi biết tới tản văn của Nguyễn Việt Hà, người đọc đã biết tới anh qua một số tiểu thuyết: Cơ hội của Chúa (1999), Khải huyền muộn (2013), Ba ngôi của người (2014)... Gần ñây, nhà văn của giọng ñiệu khôi hài rẽ sang cuộc chơi của thể tản văn bằng một loạt ñầu sách: Nhà văn thì chơi với ai, Mặt của ñàn ông, Đàn bà uống rượu, Con giai phố cổ... Điều thú vị là trong tản văn của Nguyễn Việt Hà, dù chuyện Đông hay chuyện Tây, chuyện xưa hay chuyện nay thì cuối cùng vẫn trở về với một chút gì ñó của Hà Nội, rất Hà Nội, ñậm ñặc Hà Nội. Có vẻ như chính nhà văn là người sau cùng phát hiện ra ñiều này vì khi rơi vào vùng ngẫu hứng của thể tản văn, người viết ñể mặc cảm xúc kéo ñi, kiểu như "việc viết là việc của anh, mọi cảm nhận ñể ñộc giả lo" vậy. Nguyễn Việt Hà từng bộc bạch: "Với tôi tản văn như là một thứ nháp tay, tác phẩm lẻ. Mọi người hay nói trong tác phẩm của tôi có chất Hà Nội gì ñó. Tới gần ñây khi Nhà xuất bản Trẻ in lại các ñầu sách cho tôi, tôi xem thì thấy có một Hà Nội xuyên suốt". Điều này dễ hiểu vì Hà Nội là mảnh ñất gắn bó với Nguyễn Việt Hà từ ñịa lý tới tâm hồn. Sự tan biến của Hà Nội vào tâm hồn nhà văn để lại dư vị cảm xúc phức hợp, nó không ñơn thuần là tình yêu, lòng tự hào, sự hãnh diện, niềm tin mạnh mẽ về sức sống các giá trị văn hoá của Hà Nội... mà còn là nỗi xót xa, lo âu, hoài nghi và ñau ñáu những trăn trở về một Hà Nội ñang dần dần ñổi thay theo cả hướng tích cực lẫn tiêu cực. Bước chân vào hiệu sách sẽ thấy trên giá có rất nhiều ñầu sách cùng ñề tài, cùng thể loại, nhưng từ khoá "Nguyễn Việt Hà" vẫn níu tay người ñọc phải chọn cuốn sách của anh là vì tinh thần nhất quán trong sáng tác của nhà văn: Góc nhìn thẳng về Hà Nội.

2.   NỘI DUNG

2.1.   Góc nhìn thẳng

"Nhìn thẳng" nói một cách nôm na là phản ánh trung thực tất cả những gì mình quan sát được từ đối tượng. Nhà văn đặt cho mình chế ñộ "góc nhìn thẳng" nghĩa là không bị chi phối bởi những cảm xúc riêng tư, cảm tính. Nam Cao từng "nhìn thẳng" giới trí thức ñể "lộn trái" bản chất những người như mình, không giấu diếm những hoài bão ñẹp nhưng cũng không che ñậy thói hư tật xấu. Bảo Ninh cũng căn chỉnh chế độ "góc nhìn thẳng" về chiến tranh ñể rồi nhiều người bớt ñi ảo tưởng về chiến thắng, thay vào ñó là nỗi buồn ám ảnh. Vương Trí Nhàn cũng làm thế khi viết Thói hư tật xấu của người Việt... Nhưng có vẻ như ở thời ñiểm các tác phẩm trên ra ñời, không quá nhiều ñộc giả chuẩn bị sẵn tâm thế tiếp nhận sự thật, nên khi hình dung những chi tiết ngược lại với những suy nghĩ ñã hình thành tương ñối ổn ñịnh, họ có quyền hoài nghi và không mặn mà với tác phẩm.

Đến Con giai phố cổ của Nguyễn Việt Hà thì khác. Người Hà Nội quan sát, chứng kiến cuộc sống ñất này diễn ra hằng ngày hằng giờ. Người ngoại tỉnh tới Hà Nội cũng quan sát, nếm trải cuộc sống nơi ñây với ñủ món, ñủ vị, ñủ ấn tượng. Nghĩa là bạn ñọc ñã ñược dọn sẵn tâm thế nhờ sự trải nghiệm. Đọc tản văn của Nguyễn Việt Hà chỉ còn là thao tác ñối chiếu văn với ñời, là nhờ nhà văn nói thay những bí bách cảm nhận mà mình không diễn ñạt ñược, ñể rồi xuýt xoa "sao gã này nói ñúng thế", chuẩn từ một Hà Nội với những nét ñẹp tinh tế, lãng mạn và ñộc ñáo cho tới một Hà Nội xô bồ, xấu xí, lộn xộn - nói như ngôn ngữ giới trẻ thì ñó là "một thứ Hà Nội fake" (hàng nhái) hay "phiên bản lỗi".

2.2.   Những ấn tượng đối lập về cốt cách con người Hà Nội

Điều làm nên hồn cốt ñất kinh kỳ trước hết phải là yếu tố con người. Con người kiến tạo các giá trị văn hoá, giữ gìn và bảo vệ, bồi ñắp, sáng tạo, phát triển văn hoá và tất nhiên con người cũng là tác nhân làm nó mai một và biến mất. Trong Con giai phố cổ, Nguyễn Việt Hà ñi tìm những "mẫu người" chứa ñựng sâu sắc nhất tinh thần riêng của ñất Hà Nội hay "chất" Hà Nội. Thường thì các văn nhân hay chọn người mẫu biểu ñạt tinh thần Hà Nội lãng mạn, thướt tha yêu kiều kiểu như "Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm", là vóc người mảnh dẻ thanh thoát trong sắc áo dài trắng lãng ñãng như sương chiều Tây Hồ, những nhân


vật nữ minh hoạ rõ nhất tinh thần "Chẳng thơm cũng thể hoa nhài..." hay những ñôi tay khéo léo gắn liền với văn hoá ẩm thực tinh tế, công phu của người Tràng An (ít khi là người mẫu nam)... Thì ñây, tản văn của Nguyễn Việt Hà tung ra một loạt người mẫu nam ñể hùng hồn chứng minh rằng: Đàn ông mới thực là nhân tố kiến tạo, giữ gìn linh hồn Hà Nội. Ngay từ nhan ñề tập truyện ñã khẳng ñịnh thế: "Con giai (chứ không phải con gái hay phụ nữ) phố cổ".

Đối tượng ñầu tiên ñược nhà văn chọn vào các trang viết của mình là những tay "cao bồi già" mang tên "Cao bồi già Hà Nội". Mẫu người này vốn là "người có cốt cách Hà Nội mang một phong ñộ rất riêng, nó là bản năng phố phường có ñược từ "chất" (...). Những cao thủ khinh bạc, ngửi rồi lọc lõi phán xét chính xác ñược về chất thường là những ñàn ông có tuổi ngoài năm mươi trở lên mà giới vỉa hè trân trọng gọi cũng như bọn họ trịnh thượng tự nhận, cao bồi già Hà Nội". Họ có thể là lớp cha, chú của nhà văn, họ vẫn thường xuất hiện ở quán cóc vỉa hè ñầy trầm ngâm và lim dim ngắm nhìn mặc phố phường chuyển ñộng ào ào trước mắt. Nhưng nhà văn vẫn nhận ra cốt lõi bản chất chả mấy hay ho của những "cao bồi già" này. Họ ham chơi dù không phải kiểu "ham chơi tới bến" như mấy tay cao bồi ở Sài Gòn, mà là kiểu ham chơi lãng ñãng rất tài hoa: "Lờ mờ trong khói thuốc thơm, câu chuyện của bọn họ khá tục, không phải vì bọn họ hay ñệm mà do cái chất trải nghiệm kẻ chợ cay ñắng kiêu bạc ñến mức tàn nhẫn. Phần nữa là tại bọn họ thường dở dang bỏ học, bởi ñã ñúng là kẻ chợ thì tuy khát khao tôn trọng yêu tri thức, nhưng hoàn toàn lại lười ngại ñể trở thành trí thức. Do hầu hết xuất thân ở những gia ñình dư dả có truyền thống buôn bán nên cho dù gia cảnh có lụn bại xập xệ, tất thảy họ ñều ham chơi". Lúc trà dư tửu hậu, những nhân vật này bộc lộ phần con người nghệ sĩ mà nhà văn ñã chấm phá miêu tả bằng chi tiết thật khôi hài: "Do bản chất tài hoa, ñám cao bồi hầu hết tinh tế ham thích âm nhạc văn thơ hội hoạ. Thơ bọn họ chua chát trắng trợn hiểu người nên lạ lắm. "Không vênh vang mặt giai không sợ. Không giáo giở lòng gái không thương". Đây  là hai câu vào loại nhẹ nhất trong bài thơ có nhan ñề "Đời có ra chi mà ñéo chửi" của một chân chính cao bồi ngoài bát thập". Người Hà Nội vẫn mang tiếng là "khinh khỉnh", "ra cái ñiều" mỗi khi vấp phải một người làng - vốn quen với nếp cả làng là họ - ra phố. Cái chất "khinh khỉnh" ñó ở cao bồi già lại không thổ lộ với người nông dân mà họ quay sang phớt lờ học thuật, "... cao bồi già thường nhìn các nhà "Hà Nội học" bằng cái nhìn "ñểu". Với họ, những nhà ñấy ngoài việc thuộc tên phố thì còn lại chẳng biết cái quái gì"... May quá, trong số những gạch ñầu dòng về ñặc ñiểm của mẫu cao bồi già, nhà văn nhận ra "ñiểm sáng" của nhân vật: "Tuy mải chơi nhưng không hiểu sao các ông bố cao bồi toàn ñẻ ra con cái (cả trong và ngoài giá thú) luôn luôn thành ñạt. Ở Hà Nội hôm nay, ñám con  cái ấy ñều phát tài thành cự phú. Bọn chúng ñồng thanh bảo ñấy là nhờ hấp thụ ñược cái sắc sảo lăn lộn tinh quái của người cha. Thảng trong ñám ñó cũng có ñứa phát phúc học hành, ñàng hoàng làm giáo sư tiến sĩ". "Không hiểu sao" chỉ là một cách nói, cách diễn tả sự ngạc nhiên thích thú. Thực tế thì ai cũng có thể hiểu vì sao? Vì mẫu người này vốn


mang tố chất tinh nhanh, sắc sảo có sẵn trong dòng máu kẻ chợ. Với lớp người này, nhà văn ñặc biệt tỏ bày lòng trân quý và lo âu khi hình dung một ngày nào ñó Hà Nội vắng bóng những cao bồi già. "Ngày nay, lớp cao bồi già ñang dần dần tuyệt tự. Chẳng biết họ hay hay dở, nhưng bọn họ xứng ñáng ñược ghi vào sách ñỏ ñể bảo vệ giữ gìn như một loài khác lạ quý hiếm. Bởi không có họ, cũng như không có kẻ cắp chợ Đồng Xuân hoặc "phe phẩy" chợ Giời, Hà Nội sẽ vĩnh viễn mất ñi một khoảng trống bi tráng nhố nhăng. Mà nhố nhăng là một ñặc tính làm nên một ñô thị lớn, nhà văn Vũ Trọng Phụng chuyên viết về cao bồi già gốc Hà Nội ñã bảo vậy". Thì ra mẫu người này, trong sự quan sát của nhà văn, họ có thể "nhố nhăng" nhưng chính họ làm nên một phần ñặc trưng của Hà Nội. Góc nhìn thẳng ñã thừa nhận cả hai mặt của ñối tượng, ñầy những hạn chế nhưng không thể chối bỏ, thậm chí còn cần "ghi vào sách ñỏ ñể bảo vệ giữ gìn" nữa.

Bên cạnh cao bồi già là một loạt mẫu nam ñược nhà văn gọi ra bằng cách ñịnh vị (con giai phố cổ), mô tả hoạt ñộng (ñàn ông ăn sáng, bán sách rong) hay hư danh (ñàn ông hư danh, hớt ngọn)... Khó mà tách bạch cái hay cái dở của nhân vật, nhưng có một sự thực là nhà văn xây dựng chân dung các mẫu nam với ñầy ñủ những nét ñẹp ñáng trân trọng và cả những khiếm khuyết ñộc ñáo. Tất cả ñều rất "Hà Nội".

Đó là những gã giai trẻ mà "nhất loạt bọn này ñều mê gái sớm, thảng thốt mới có ñứa lọt vào ñược ñại học nhưng thông minh tài hoa lãng tử kiêu bạc thì không một thứ giai của vùng nào sánh nổi. Chỉ trong vài buổi cóp nhặt học truyền tay ñã lập tức bập bùng ghita ñiêu luyện tán gái. Phải xem một thằng con giai xõa sợi tóc dài khàn khàn cầm ñàn "quạt chả" hát "Đau, từ ñáy trái tim ta buồn ñau... Đau..." (con giai phố cổ). Với Nguyễn Việt Hà, một giai phố cổ sinh năm 1962 thì có lẽ, những chi tiết kia phần nhiều ñược phục dựng từ chính mình một thời. Nên vừa chủ quan, vừa khách quan, nhà văn cho rằng có chứng kiến hình ảnh một chàng trai Hà thành ôm cây ñàn "quạt chả" mà nức nở ngôn tình "thì mới hiểu ñược thế nào là sự quyến rũ’.

Cái phần "tăm tối" nhất của Hà Nội xét từ góc ñộ buôn bán từ xưa tới nay là chợ Giời. Cái phần "vô minh" nhất trong con người Hà Nội chắc hiển thị rõ ở những gã trai gắn với "hỗn danh" (những Hải "vợt", Tùng "cứt", Dũng "lừa"...). Nguyễn Việt Hà gọi ñó là ñám trong "hư danh ñàn ông". Chừng như thích thú với mẫu người này, nhà văn nắm trong tay cả một phần giới thuyết ñầy ñủ về nhân vật. Từ thời gian hình thành: "Khoảng chục năm sau ngày ñất nước thống nhất, xã hội còn nhộn nhạo ñang loay hoay lương thiện, nên ở Hà Nội có rất nhiều ñàn ông mang hư danh (...) phần ñông ñàn ông Hà Nội có danh "hư" ñều sống khá tử tế theo cái nghĩa hiện ñại mà ñám teen bây giờ gọi là "dân chơi", ñến nguồn gốc, xuất xứ: "Bọn họ hầu hết xuất xứ từ những gia ñình có nhiều ñời loanh quanh buôn bán phố cổ nên so với mặt bằng vất vả chung của thời bao cấp thì tiền nong tàm tạm là dư dật. Mẹ và chị của họ thường rất ñảm, tuy học ít nhưng lại giỏi tần tảo bán buôn. Ông bố hiền lành không làm gì, cả ngày chỉ ñọc tiểu thuyết Pháp, phong ñộ hao hao của ông ký


nhà băng hoặc nhà dây thép, một mẫu hình công chức "tây" khá tiêu biểu của một thời văn hoá ñô thị thực dân phong kiến Việt". Chi tiết ñến mức có thể phân loại nhờ ñặc ñiểm nhận dạng: ñó "có thể là ñám thanh niên thập thành mới lớn, lại có thể là những trung niên tóc muối tiêu nửa chừng xuân, tất tật ăn mặc chải chuốt khẩu khí lanh lợi thông hoạt. Chàng trẻ thì quần loe tóc dài áo chim cò, gã ñàng ñiếm sắp già thì quần kaki trắng ống ñứng áo sơmi kẻ ca rô màu sáng nhạt. Và ñều ñặn mỗi sáng, cả bọn ngồi uống cà phê tán láo  chừng hai tiếng ở mấy quán cũ kỹ sâu trong những phố có tên ñầu bằng chữ "hàng". Do thuộc nhiều thơ và biết ñiêu luyện chơi ghita truyền tay tự học, bọn họ thường cưa ñổ kha khá nhiều thiếu nữ muốn ñú với tình phí rất thấp". Nhà văn không ngại "bonus" thêm phần lời bình về quan ñiểm số ñông trong nhìn nhận: "Theo quan ñiểm lao ñộng của thời ñó thì bọn họ là một lũ vô công rồi nghề, mánh kiếm tiền duy nhất mà họ thành thạo là "chỉ chỏ", một kiểu ăn chênh lệch giá trong những giao dịch mai mối các mặt hàng quý hiếm... những thứ mà xã hội trọc phú giờ ñây coi là tầm thường ñồng nát"... Hà Nội ở ñâu, Hà Nội như thế nào trong những gã ñàn ông như thế? ở phẩm chất hào hoa trộn lẫn sự lọc lõi, ở sự ma mãnh và phớt ñời, hay của thời thế với nguồn gốc, nề nếp của gia ñình?...

Dù là "góc nhìn thẳng" thì ở ñâu ñó ta vẫn nhận ra chút thiên vị có lý của nhà văn khi gợi lại nét ñẹp bền vững trong mỗi con người Hà Nội nhiều hơn bàn về sự mai một, tha hoá. Có sự thiên vị ñó không phải vì Nguyễn Việt Hà là người Hà Nội, mà chính vì bản thân Hà Nội vốn mang những giá trị tốt ñẹp nhiều hơn những bụi bặm, rác rưởi vướng theo trong quá trình phát triển. Nên từ những gã trai trẻ ñến ñám mang hư danh hay những người bán sách rong ở Hà Nội, trong mỗi lớp người, nhà văn vẫn nhìn thấy những phẩm tính ñáng trân trọng ở họ. Đó là những người mà giữa thời kỳ bao cấp, khổ sở vật lộn với ăn, với mặc, họ vẫn quý sách hơn cả danh lợi, ñược xếp vào nhóm "những kẻ dở hơi"; họ ñói nhưng không cuồng ăn mà "cuồng chữ" nên ñằng sau những gương mặt ñăm chiêu có phần lạnh lùng của những người ñàn ông bán sách rong nơi góc phố chật chội nào ñó là những cái ñầu uyên bác. "Bọn họ lẫn lộn biết nhiều, ña phần cuồng chữ ñọc thiên kinh vạn quyển. Trí nhớ chẳng thua Giacốp Menñen (...) do luẩn quẩn chật hẹp chuyện cơm áo, vẻ ngoài của ñàn ông bán sách dạo trông "hèn hèn" còn bên trong cũng khuất khúc vài góc tối vô minh. Đến nay, những tay xuất sắc nhất trong bọn họ ñều ñã thành những người muôn năm cũ (...)" (bán sách rong); họ là những người ñàn ông nổi loạn thời trẻ nhưng ñứng ñắn, mẫu mực khi trưởng thành. Điều này ñặc biệt có giá trị khi báo chí ra rả về sự xuống cấp trong ñạo ñức hôn nhân, sự mai một của giá trị hạnh phúc trong mỗi gia ñình nhỏ. Hà Nội phần nào vẫn duy trì ñược sự bình yên giữa tâm bão ñời sống khi còn những người ñàn ông xuất thân từ phố cổ: "Bọn con giai phố cổ khi có vợ bỗng trở nên hiền lành, tuy gia trưởng nhưng bọn chúng chung thuỷ, ít "mèo mỡ", hầu hết ñều sống chung với cơn lũ hôn nhân cho ñến khi cuối ñời, mặc dầu cái thứ lãng mạn trót cưa ñược kia ñích thực là một của nợ" (con giai phố cổ).


Nguyễn Việt Hà có một "cái ñầu lạnh", tỉnh táo khi quan sát và tìm tòi, thấu hiểu mảnh ñất mình sinh ra với ñầy ñủ cái "ñược" và cái "chưa ñược", cái ‘có" và cái "sắp mất, mất dần, mất hẳn". Nhưng Nguyễn Việt Hà cũng có một trái tim nồng ấm và dịu dàng, bao dung khi nhìn những con người xung quanh mình, cuộc sống quanh mình bằng cái nhìn trìu mến, tin tưởng. Với anh, những con người ñó, "chẳng biết họ hay hay dở" nhưng chắc chắn, họ có vai trò thực sự quan trọng trong việc kiến tạo và gìn giữ những nét văn hoá - linh hồn Hà Nội, "Hà Nội vắng họ, chợt lộ ra một khoảng trống, một hẫng hụt" (bán sách rong), vắng họ "Hà Nội sẽ vĩnh viễn mất ñi một khoảng trống bi tráng nhố nhăng" (cao bồi già Hà Nội). Nhờ có những người "thong thả ăn, tinh tế mặc, chầm chậm sống" mà "Hà Nội hôm nay mới có nổi dăm bảy hàng phở ngon, vài ba quán cà phê thị dân sâu lắng" (con giai phố cổ). Dù là ñám người bị nhà văn ñịnh danh là "bạc nhược, nghệ sĩ nửa mùa" thì họ vẫn ñang "trả ơn Hà Nội bằng cách quyết liệt tự nuôi cho mình những thói quen của bao ñời Hà Nội" (con giai phố cổ)... Sau tất cả, nhà văn vẫn nhận thấy hay tin tưởng rằng linh hồn là thứ trừu tượng nhưng bền vững: "Một ñô thị ñã ngoài nghìn tuổi thì ñương nhiên phải có linh hồn. Hoặc hay hoặc dở ñâu có quan trọng, chỉ biết nó thăm thẳm mơ màng rêu phong tạo riêng một bản sắc. Phố cổ chính là nơi giữ gìn ñược ñôi chút những mảnh hồn ñộc ñáo ấy. Có phải thế chăng mà cho dù bị dung tục phát triển các phố cổ ñến nay vẫn chưa chịu mất" (con giai phố cổ).

Có thể nói ngần ấy mảnh vụn về con người Hà Nội trong các trang tản văn này ñủ ñể cắt nghĩa vì sao trong tiểu thuyết Ba ngôi của người, bên cạnh việc dựng lại chân dung một Hà Nội ñương ñại với ñủ thứ nhốn nháo, xấu xí, ñủ gương mặt ñại diện cho các tầng lớp  thị dân, vẫn ñặc biệt chăm chút cho mẫu nhân vật ñược xếp vào hàng những người Hà Nội "sắp tuyệt chủng". Không giống như các bậc tiền bối hay những người bạn ñương thời vì quá yêu Hà Nội mà dành cho nơi này một ưu ái thấy rõ khi họ chỉ chọn phần ñẹp và quý nhất của Hà Nội ñưa vào trang văn, Nguyễn Việt Hà giống như thủ lĩnh của số ít những người viết về Hà Nội với ñau ñáu những trăn trở khi soi chiếu những nét ñẹp có thực, ñáng trân quý ở trong sâu thẳm mỗi con người Hà Nội thuộc lớp người cũ ñang dần mai một với một thế hệ mới có vẻ hiện ñại nhưng khó lòng duy trì ñược vẻ ñẹp có tính truyền thống của kinh kỳ hơn một nghìn năm tuổi, ñúng tinh thần "nhìn thẳng" - không chỉ miêu tả cái ñẹp mà còn "phũ phàng" chỉ ra ñiểm yếu, không phủ nhận hiện tại nhưng chới với ñi tìm cái cũ.

2.3.   Những cảm nhận tương phản về cảnh sắc, đời sống con người Hà Nội

Bên cạnh con người, dù không ñi sâu nhưng nhà văn không quên phác hoạ vài nét ñơn giản, ấn tượng về Hà Nội từ góc ñộ cảnh sắc và ñời sống thường nhật của con người nơi này. Trong tiểu thuyết Ba ngôi của người, nhà văn tự hào về một Hà Nội ñẹp từ trong bản chất cố hữu, ñẹp trong từng ngày, từng mùa và miên viễn thời gian: "Hà Nội tàn thu, mưa bụi mịn giăng, phảng phất có gió Đông Bắc rét ñầu mùa. Một nghìn năm trước nó ñã vậy và một nghìn năm sau cũng sẽ vậy". Thì ñây, trong tập tản văn Con giai phố cổ, người ta


bắt gặp một Hà Nội với "... sương loang hồ Tây, này là thu vàng ngõ nhỏ. Rồi thì công phu ẩm thực, rồi thì kỹ tính thú chơi" (cao bồi già Hà Nội). Một Hà Nội thâm trầm, cổ kính nhưng cực lãng mạn khi "trên một cửa sổ tầng hai rêu phong nào ñấy, hoặc trên một ban công biệt thự nhỏ có giàn hoa tigon nào ñấy, thấp thoáng một thiếu nữ hay một thiếu phụ ñang ngồi ñọc sách. Trong hoàng hôn nhợt nhạt sót vài vệt nắng, có một cái gì dịu dàng bất trắc xoáy vào tim của kẻ ñang ngẩn ngơ nhìn trộm" (khi ñàn ông không ñọc)

Lúc khác, nhà văn mượn lời "ông ñộc giả già có nhà lòng ống ở Hàng Bạc" tinh tường phát hiện "Dăm bảy năm lại ñây, mưa xuân ở Hà Nội ñang mất dần vị ngọt". Người trẻ nhưng hoài cổ như Nguyễn Việt Hà ñành lang thang ñi tìm chút khởi nguồn hay dư vị của xuân. Tìm ở ñâu? Tìm từ trong triết lý buồn "như một tiếng thở dài" rằng: "Phố phường của thủ ñô, chỗ nào còn Hà Nội nhất hình như chỉ còn là chỗ thưa người". Vậy thì ñích thị chỉ còn có một nơi cứ kiên cường lặng lẽ giữa ồn ào phố thị, ñó là thư viện cổ rêu phong. Trong không gian mênh mông của lắng ñọng thời gian cuối năm, sẽ còn một vài người "Từ tốn mơ mộng họ lật sách. Cái chầm chậm của những trang chữ làm tiết Xuân trinh bạch tần ngần chẳng dám trôi. Và không cần tinh tế lắm cũng thấy ñược màu của tết, mùi của tết. Đấy là cái màu nóng ấm của hồng ñào phảng phất tinh hoa từ những người Tràng An muôn năm cũ. Đấy là cái mùi của nhè nhẹ lá gội ñầu hương nhu có từ thuở các bà các cô Hà thành" (thứ hương xưa cũ ñã từng phảng phất trong Tóc chị Hoài của Nguyễn Tuân), nó tương phản ñến mức khiến những người ñàn ông yêu dịu dàng truyền thống thấy chẳng vừa mắt với những cô, những bà ñược mệnh danh "người hiện ñại" hôm nay chỉ chuyên "dùng dầu gội lờ lợ mùi mỹ phẩm", ñoạn tuyệt luôn thứ hương "thanh và thơm ñến vô cùng" (một chỗ xuân Hà Nội).

Bỗng nhiên hôm nay Hà Nội xuất hiện một loạt những quán cà phê và quán ăn gợi lại nỗi ám ảnh về Hà Nội một thời bao cấp, cái thời mà nhà văn cũng giống như nhiều người khác thấy vừa buồn vừa thương thân bởi nỗi "khốn khổ của một thời chẳng nỡ quên" với cảnh tượng "... vật lộn xếp hàng cầm sổ lương thực ñong gạo rồi chen ngang ñánh nhau tem phiếu mua ñậu phụ bứt rứt ám ảnh. Đấy là chưa kể lẫn lộn vào những rạch quần loe những "cờ ñỏ" cắt tóc dài..." (ñàn ông hoài cổ). Nhưng cũng có một Hà Nội "hồi khoảng mươi năm trở về trước" với nét ñẹp văn hoá không vùng ñất nào cả Bắc cả Nam có ñược, ñó là thú vui vô cùng tao nhã, những người ñọc sách cả già và trẻ, thường hẹn nhau vào khoảng "chiều muộn hăm tám Chạp là ngày gặp nhau cuối năm và sáng sớm mùng sáu giêng là buổi quây quần khai bút. Họ dịu dàng bình những bài báo hay những áng thơ ñẹp rồi lì xì cho nhau những ñoản thơ tứ tuyệt". Họ ñích thực là những "người ñọc trong trắng" mà nhà văn khẳng ñịnh chắc nịch rằng "Người Hà Nội cũ kỹ chân chính ñều mơ hồ có cái thói quen ñọc ñấy". Bây giờ thì những ñộc giả Hà Nội như vậy bỗng biến mất một cách lặng lẽ và tất yếu, thay vào ñó là thực tế: "Thư viện hôm nay tuyệt không thấy một ai mơ màng ngồi ñọc thơ nữa, ña phần ñều cồn cào ngốn ngấu những loại sách ñược thời thượng


gọi là sách công cụ: Một nghìn cách làm giàu làm. Làm thế nào ñể bạn trở thành quyến rũ. Quản trị kinh doanh thật là ñơn giản". Rất nhanh. Qua mấy ngày cuối năm, không gian tĩnh tại và bình thản của thư viện cổ sẽ bị làm phiền bởi một Hà Nội thực dụng ñến mức một viên gạch cũng có thể hái ra tiền chứ ñừng nói tới khuôn viên rộng rãi của thư viện ñược lát hàng trăm phiến gạch. Rồi "thư viện sẽ hết tết khi cái siêu thị ñối diện ñông người trở lại. Người ta hớt hải vét hàng khuyến mại, tranh nhau ñem xe gửi vào khuôn viên của nhà chứa sách. Cả toà biệt thự cũ chợt nhiên nhợt nhạt mất ñi trầm lặng cổ kính. Rồi nó sẽ giống như mọi phố phường của Hà Nội ñời thường hôm nay, chỉ toàn những ồn ào vội vã" (một chỗ xuân Hà Nội). Hà Nội khác xưa quá nhiều rồi. Đó là sự thay ñổi tất yếu của một ñô thị ñang vặn trở mình ñể thay ñổi. Nhưng "thay ñổi" không ñồng nghĩa với tốt hơn. Đáng tiếc là Hà Nội của ngày hôm nay ồn ào, sôi nổi một cách xô bồ và hỗn loạn.

Cái sự nhốn nháo của ñời thường dễ thấy nhất là ở những siêu thị trung tâm, những "ngồn ngộn", "dư dật", "tranh giành", "bừng bừng chứng tỏ"... những "kênh kiệu ñài các", "háo hức mua bán" - là nhóm ñộng tính từ không thể chính xác hơn, ñược nhà văn dùng ñể miêu tả ñời sống ở vùng ñất Hà thành. Những trạng thái ñó ñã tiêu diệt không khoan nhượng tinh thần "thanh thoát", "thong thả", "chậm rãi", "sang, sành và tinh" (du xuân) của người Hà Nội lớp trước. Thế nên nhà văn mới ra vẻ khách quan mô tả: "Hà Nội những năm gần ñây ñã rùng rùng thay ñổi, từ một thành phố tinh tế sâu lắng bỗng chốc tấp nập trưởng thành". Kỳ thực mắt người viết ứa nước khi chứng kiến thực tế cực kỳ bất ổn, "kinh tế nhấp nhổm tăng trưởng còn phong khí văn hoá cũng loay hoay ñang ñịnh hình" (lên ñời).

Bao nét ñẹp trong những ngày cuối năm ở Hà Nội, bao phong tục văn hoá giàu tính nhân văn của người Hà Nội trong những ngày ñầu năm ñều biến mất hoặc biến tướng cả. Sự nỗ lực níu kéo, duy trì của một vài người nặng lòng với ñất này chẳng thể lại với cơn lũ quét của ñời sống mới. Sau cơn lũ, có phù sa tươi tốt hơn cho cây trồng nhưng cũng có nhiều rác rưởi cuốn, mắc lại. Nguyễn Việt Hà viết về Hà Nội trong tâm thế ñi tìm lại  những hạt phù sa văn hoá và thật ñau lòng khi bắt gặp bao rác cạn trong lòng phố. Một tiếng thở dài lo âu trước thực tế những nét ñẹp tinh thần của người Hà Nội bơ vơ và dễ mất mà "... chẳng biết khi Hà Nội ñã qua nghìn năm tuổi liệu có còn muốn giữ" (một góc xuân Hà Nội). Thật ra có muốn giữ cũng không ñược. Người ta bảo hiện ñại phải mới, phải thay cái cũ. Cây già ñược thay bằng cây non. Vườn ñào san phẳng thành chung cư cao cấp. Những cổng gạch ven ô rêu phong ñã "bị thô bạo xây thành mới toanh xám xịt bê tông" rồi. Vậy là từ nhà văn tới người ñọc ñều dễ ñồng cảm với cảm thán của một nhà thơ già viết về Hà Nội:

"Mái bằng mái bằng lại mái bằng Tôi ñi như cá lạc vào ñăng.

Ba mươi năm lẻ về quê cũ,

Cả làng thành một cục xi măng" (lên ñời)


2.4.   Vài nét độc đáo về nghệ thuật

Dù khởi nguồn cảm hứng rõ ràng về Hà Nội hay những câu chuyện vu vơ dẫn suy tưởng nhà văn trở về Hà Nội thì bao giờ giọng ñiệu da diết trong văn của Nguyễn Việt Hà cũng bộc lộ trạng thái phân vân, hoang mang giữa cái cũ - mới. Nhìn món ăn nay nhớ món ăn xưa, hương vị xô bồ nông nổi ñánh thức những tiếc nuối quay quắt cái ñã mất. Người Hà Nội hôm nay ngang qua hàng cây trơ trụi lá bên ñường bỗng thèm, tiếc, nhớ vòm lá xanh mướt của cây cổ thụ trăm năm tuổi ñã thành "thụ thiên cổ". Chắc cũng giống như cảm giác của nhà văn khi ngang qua "Hàng Buồm với ñền Bạch Mã mà ở gần ñó có mì vằn thắn, gánh mì vô danh tuyệt ngon của lão Hoa kiều móm ấy ñâu rồi, bây giờ thay vào là một hàng cơm rang mì xào chim quay giả người Tàu, mọi thứ ñều ngấy mỡ nồng nặc hành phi thơm nức bịp bợm bọn nông nổi "bất tri kỳ vị" chen chúc ngồi ăn nườm nượp" (hớt ngọn)... Rồi từ câu chuyện thường nhật là bữa sáng mà ra cái rưng rưng nhớ - ñộ dài của nỗi nhớ tới nửa thế kỷ: "Các tay thị dân già sành ñiệu thì thích các quán các gánh cũ kỹ  vỉa hè, hầu hết ñều khuất khúc trong lam nham phố cổ. Những hàng những quán lâu ñến nỗi mà cô chủ bây giờ tuổi ñã sồn sồn, mỗi khi chần thêm mấy nhánh hành củ cho ông khách quen thỉnh thoảng lại buột mồm: "Hồi còn mẹ cháu, cụ vẫn nói là ông thích nhất ăn thịt gà ở chỗ lưng". Ông thực khách cao bồi có tuổi lọc lõi với cái mũ phớt bỗng rưng rưng ngầm nuốt nước bọt ñang chứa chan quanh hàm răng giả, bồi hồi nhớ về hơn năm mươi năm trước từng trong trắng dẫn mối tình ñầu ra ăn bún mọc cũng ở quán này" (ñàn ông ăn sáng).

Trước ñây, nhà thơ Vũ Đình Liên ñã khiến người ta rơi vào vùng hoài cổ mà nước mắt chứa chan vì nỗi tuyệt vọng không tìm thấy những gì ñẹp ñẽ ñã tan biến trong hồ sương khói, nay Nguyễn Việt Hà cũng kéo người ñọc vào vùng hoài cổ nhưng khiến người ta dở khóc dở cười là vì nhà văn sử dụng ngôn ngữ và cách diễn ñạt vừa bộc lộ phần kiến văn sâu rộng (của sách vở), vừa "khoe" ñược sự cập nhật ngôn ngữ hiện ñại (của ñường phố). Trừ ñi cái phần sắc sảo và thông minh sẵn có, thì tâm thế, cảm xúc của tác giả là một nguyên nhân. Nguyễn Việt Hà từng bộc bạch trong buổi ra mắt tuyển tập truyện ngắn của mình rằng: "Khi nhớ, lẽ thường, người ta vẫn nhớ về những gì ñẹp ñẽ. Để rồi, con người ta ñâu dễ tránh khỏi những cảm thức xót xa khi những ñiều tốt ñẹp ñó không còn trong hiện tại. Cũng bởi vậy, diễn ngôn của tôi ñôi khi có chút cay ñắng, câu chữ có phần chua ngoa". Ngoa, thông minh, hài hước - ñó là ấn tượng có thực với bất cứ ai một lần ghé qua tạp văn của Nguyễn Việt Hà. Bằng chứng vô số kể. Hội "ñạp thanh" ñược nhà văn cắt nghĩa cho những "trẻ trâu" lần ñầu nghe thấy khi ñi du xuân như sau: "Nghĩa nôm na của từ này là dẫm lên cỏ xanh mà ñám trẻ ñương ñại gọi là ñánh bóng vỉa hè" (du xuân). Nhưng cái sự chua ngoa này không giống như mấy chị bán hàng ngoài chợ "cong cớn" và "xỉa xói", mà là kiểu viết "ñánh võng từ vỉa hè này sang cột ñiện kia" như một người lắm lời nhiều ý, khiến khối người ñọc văn Nguyễn Việt Hà "giật mình thon thót", tuồng như mình, chuyện nhà mình, chuyện phố mình... bị nhà văn bóc mẽ. Cũng nhờ vậy mà "Hà Nội


trong văn của anh nhộn nhịp gấp bội" (Nguyễn Trương Quý). Từ ñịnh nghĩa về thuật ngữ ñường phố "ăn ñủ", tác giả "liệng" sang câu chuyện "có một dạo ở vỉa hè Hà Nội dùng chữ "ăn ñủ" theo nghĩa rất tệ. Khi thấy một gã quan tham ñã có biệt thự lại cố chiếm lấy một suất phân nhà bé tí trong khu tập thể rồi thanh thản hạ cánh an toàn. Hoặc một giáo sư ñã có vợ khôn, có bồ ñẹp mà vẫn gạ tình lấy ñiểm cô bé sinh viên năm cuối nhếch nhác sau ñó ung dung hưu trí, thì người ta cảm thán "thằng ấy à, nó ăn ñủ rồi". Đại loại, cái thằng ấy là thằng ñã ăn "dày" còn ăn cả "bí tất", một thứ cực kỳ bại hoại bần tiện" (ăn ñủ); từ chuyện Hà Nội có phố cổ hay không? "liệng" sang bộ phim Lều chõng (ñạo diễn Phi Thanh Vân) dựa theo tiểu thuyết của Ngô Tất Tố mà Nguyễn Việt Hà khoái chí khi phát hiện "ngoại trừ mấy nàng diễn viên ñóng vai ñào nương châm rượu chắc chắn là không tân, còn ñâu nội thất tuốt tuột ñều mất hẳn mùi xưa cũ" (ñàn ông hoài cổ). Đang bàn về bản chất "hoạt bát khoáng ñạt lẫn lộn cả tiểu xảo lưu manh" của ñám con giai phố cổ, nhà văn chợt nhớ ra nhân vật Xuân tóc ñỏ trong Số ñỏ của Vũ Trọng Phụng, vậy là bồi thêm ñoạn bình luận: "Nhân ñây cũng rụt rè xin ñược bàn, Số ñỏ hoàn toàn không phải là kiệt tác,  văn chương tiểu thuyết thua xa Giông tố... Nó vĩ ñại vì ñơn giản nó là cuốn sách hiếm hoi hay viết về người Hà Nội". Rồi từ chuyện mẫu hình ñàn ông mang hư danh ở Hà Nội một thời, nhà văn "tạt ngang" sang chuyện một hiệu trưởng lợi dụng mua dâm nữ sinh...

Viết lời tựa cho tập tản văn Con giai phố cổ, nhà văn Nguyễn Trương Quý còn phát hiện "vô số triết lý ñặc sệt tinh thần ñường phố Hà Nội" nhưng chất chứa cảm xúc thương nhớ, yêu mến ñều ñặn xuất hiện trong mỗi tản văn của Nguyễn Việt Hà. Kiểu triết lý với giọng ñiệu "tưng tửng" như: "Nhố nhăng là một ñặc tính làm nên một ñô thị lớn" (cao bồi già Hà Nội) hay "Phố cổ không thể mất dù bị dung tục phát triển. Mất làm sao ñược, khi trong từng ngôi nhà của nó vẫn luôn có mấy thằng con trai" (con giai phố cổ). Đanh ñá như triết lý: "Hư danh thường ñược sinh ra khi một thằng thực chất là thằng nhưng cố xưng xưng tỏ mình là ông" (hư danh ñàn ông), hài hước như lời tổng kết chắc chắn rằng: "Con giai phố cổ thời tem phiếu ñều nồng nàn thiết tha yêu Bờ Hồ. Chỉ vì hai lý do: câu cá trộm và ở ñó có bán bia hơi tuyệt ngon" (con giai phố cổ). Cũng có lúc rưng rưng nước mắt: "Nỗi nhớ hồ Hoàn Kiếm luôn ñọng thành vũng trong tim những kẻ trót bất hạnh ñi xa và kể cả những người may mắn còn ở lại" (con giai phố cổ)...

Giống như một nhiếp ảnh gia, tấm hình nghệ thuật trước hết phụ thuộc vào góc máy. Khi ghi lại những tấm hình về Hà Nội, nhờ "thoát khỏi sự thôi miên của văn chương", Nguyễn Việt Hà mới có ñược góc nhìn thẳng như vậy và anh lan toả tới bạn ñọc cảm giác vừa cười xong ñã băn khoăn tự hỏi về những ñiều gây cười. Sau cùng, giá trị trong sáng tác của Nguyễn Việt Hà là nhà văn ñã dùng tác phẩm của mình ñể gìn giữ vẻ ñẹp của Hà Nội. Cho dù ñể giữ gìn vẻ ñẹp ñó, có lẽ nhiều lúc cầm bút viết, con chữ chạy ra trên ñầu ngòi bút cũng là khi trái tim quặn thắt và ñôi mắt ứa nước bởi ý nghĩ những gì thuộc về thời của ông bà, cha mẹ, chú bác mình... rồi cũng thành "vang bóng".


3.   KẾT LUẬN

"Hà Nội", "Văn hoá Hà Nội" trở thành từ khoá dễ dàng tìm kiếm ñược hàng chục nghìn kết quả thông tin trong một giây. Trong số ñó, tất nhiên người ta tìm thấy vô số văn bản tụng ca về vẻ ñẹp của Hà Nội, văn hoá Hà Nội. Cũng có không ít nhưng bài viết lên tiếng báo ñộng hay cầu cứu về vẻ ñẹp "vang bóng một thời" của ñất kinh kỳ trước thực tế Hà Nội của nghìn năm văn hiến ñang dần bị "dung tục hoá"... Nhưng những sáng tác của Nguyễn Việt Hà (tác phẩm nói chung, tản văn nói riêng) vẫn có sức cuốn hút riêng - lặng  lẽ nhưng bền bỉ, mãnh liệt và gợi nhiều trăn trở. Những người sinh ra, lớn lên ở Hà Nội  hay những người thuộc về vùng ñất khác yêu Hà Nội với tư cách một giá trị văn hoá ñộc ñáo của dân tộc ñều nhận thấy tình yêu dành cho Hà Nội "ñọng thành vũng" trong tim Nguyễn Việt Hà.

Nhà văn yêu nơi này theo cách riêng của mình. Yêu không có nghĩa là viết về phần hay, phần ñẹp và tụng ca, hoài niệm về những giá trị ñã trở thành dư vang mà còn là thái ñộ thẳng thắn, nhìn thẳng và phản ánh thật những gì ñang diễn ra, thậm chí là sự tỉnh táo logic suy luận dự báo về những gì sẽ diễn ra... Tất cả ñều bộc lộ trăn trở về việc gìn giữ các giá trị văn hoá Hà Nội cho mai sau.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.                  1  Nguyễn Việt Hà (2013), Con giai phố cổ, Nxb Trẻ, Hà Nội.

     2.        Thiện Nguyễn (2015), Nguyễn Việt Hà: Với tôi Hà Nội muôn ñời vẫn vậy, ngày 09/1/2015, vannghequandoi.com.vn.

      3.        Lam Thu (2015), Nhà văn Nguyễn Việt Hà ñau lòng về sự xô bồ của Hà Nội, ngày 09/1/2015, vnexpress.net.

4.                   4  Lam Thu (2016), Nguyễn Việt Hà ra mắt tuyển tập truyện ngắn, 21/1/2016, Vnexpress.net.


TPHCM, 30/10/2021

Nguyễn Thị Thanh Huyền.

Trường Đại học Thủ ñô Hà Nội

TRƯƠNG HOÀNG LONG- SƯU TẦM VÀ GIỚI THIỆU.

  

VĂN HOÁ GIAO TIẾP của NGƯỜI NAM BỘ qua TIỂU THUYẾT HỒ BIỂU CHÁNH – MỘT GÓC NHÌN                                                             ...