Thứ Hai, 5 tháng 7, 2021

TẬP THƠ MƯA NGUỒN CỦA BÙI GIÁNG DƯỚI GÓC NHÌN NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT

 



A.     MỞ ĐẦU

Trong văn học miền Nam Việt Nam, Bùi Giáng xuất hiện trong đời sống văn chương, học thuật thời kỳ trước và sau năm 1975 trên bốn lĩnh vực: sáng tác thơ, nghiên cứu triết học, phê bình văn học và dịch thuật. Đặc biệt, thơ Bùi Giáng vừa thấm nhuần tư tưởng đạo đức, triết lý, vừa bí ẩn, hoang liêu, hồn nhiên, đùa giỡn tựa như một cuộc rong chơi. Thơ như bầu khí quyển bao bọc con người Bùi Giáng. Theo lời kể của nhà văn Mai Thảo, Bùi Giáng là người “Ngủ ra thơ, thở ra thơ, đi ra thơ, đứng ra thơ. Chứ không phải nghĩ thơ, làm thơ  Đó là cách làm thơ lạ lùng, mở ra một thế giới nghệ thuật độc đáo, hấp dẫn, thu hút độc giả và tác phẩm khá nổi tiếng tạo nên phong cách của ông phải kể đến đó là tác phẩm “Mưa nguồn”.Tập thơ “ Mưa nguồn”  như một cánh cửa mở ra một không gian thơ “vô tận”, vừa đầy ắp những hình ảnh, ngôn từ vừa thách thức, cợt đùa với độc giả bằng sự rỗng rang, phi logic đến từ một tâm hồn thi sĩ – triết gia đầy bí ẩn.

B.    NỘI DUNG

1.      ĐÔI NÉT VỀ TÁC GIẢ BÙI GIÁNG VÀ TẬP THƠ “MƯA NGUỒN”

Bùi Giáng sinh ngày 17 tháng 12 năm 1926, quê ở làng Thanh Châu, xã Vĩnh Trinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Ông là con thứ hai trong gia đình có 8 người con. Thân sinh của Bùi Giáng là cụ Bùi Thuyên, thân mẫu là bà Huỳnh Thị Kiều. Khi vào miền Nam ông được gọi là Sáu Giáng. Thuở nhỏ, ông theo học Tiểu học ở Hội An, học trung học tại Thuận Hóa - Thừa Thiên. Năm 1948, gia đình ông tản cư về Trung Phước. Từ 1950 đến 1952, ông chăn bò ở vùng Trung Phước. Đây là khoảng thời gian mà ông gọi là 15 năm chăn dê như Tô Vũ ngày xưa. Trong thập kỷ 60, 70 của thế kỉ XX, ông có dạy học tại một số trường tư thục của Sài Gòn. Có thời gian ông điều trị bệnh ở dưỡng trí viện Biên Hòa. Ông mất ngày 7 tháng 10 năm 1998 tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Mưa nguồn là tập thơ đầu tay của Bùi Giáng. Cả tập có 141 bài thơ, tính đến nay đã tái bản 5 lần. Đây là tập thơ tạo được ấn tượng lớn nhất đối với độc giả, khẳng định rõ phong cách tác giả và được coi là tác phẩm “trong sáng” nhất của Bùi Giáng.

2.TẬP THƠ  MƯA NGUỒN CỦA BÙI GIÁNG  NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI  DUNG

         2.1  .Tập thơ Mưa nguồn – Cái tôi trữ tình đầy ắp những kỷ niệm

Trong các sáng tác của Bùi giáng luôn tỉnh táo trong nhận thức, kín đáo trong cuộc sống tình cảm riêng tư.Trong Nỗi Lòng Tô Vũ, Anh Lùa Bò Vào Đồi Sim Trái Chín, ông ghi lại đoạn đời chăn dê, chăn bò nơi núi rừng Trung Việt với những cảm xúc chân thành đầy nhân ái :

Anh lùa bò vào đồi sim trái chín

Cho bò ăn cỏ giữa rừng sim

Anh nhìn lên trời xanh đỏ chín

 Anh ngó bốn bề cây lá gió rung rinh

(Anh Lùa Bò Vào Đồi Sim Trái Chín)

 

Bùi Giáng còn thể hiện nỗi day dứt khôn cùng về cái chết của người vợ trẻ:

   Mỗi giây phút mỗi bất ngờ

     Mỗi đêm tưởng tượng thẹn thò tình em

     Tình em bao xiết êm đềm

   Tình tôi như thể chênh vênh lạ thường

(Thôn nữ)

Trong tập thơ còn tái hiện cuộc phiêu du trên những vùng miền, linh đinh với trời đất lạ với bao ân tình như gió thoảng mây xa lại sâu sắc mặn mà. Đó Bình Dương trong Ruộng Bình Dương, Lục Tỉnh trong bài Chào Thu Lục Tỉnh:

Ngàn thông ơi ở đó đón bóng tà

Và giữ lại chuyện đời ta đi mất

Bước khúc khuỷu trong ngàn khe khóc lóc

Dặm mơ màng tăm tắp mấy mù khơi

(Giã Từ Đà Lạt)

Nhà thơ còn mang một giấc mộng trầm luân tìm kiếm những vẻ đẹp hoài cổ đó là những mái nhà tranh, những bờ ruộng cũ, đậm đà trong lời ca dao hồn hậu, thân tình:

Viết thơ lạc mất mấy dòng

Viết trong tức tưởi sợ đồng lúa mong

 Nước xanh lên dột đòng đòng

Ngày mai sẽ mất hạt lòng thơ ngây

(Ca Dao)

Vẻ đẹp hoài cổ không chỉ đơn giản là cố hương, cố quốc, cố đô, mà đó là tất thảy những gì đã lìa xa, xa mãi, để một hôm nhìn ngó lại bằng một con mắt:

Vì con mắt một lần kia đã ngó

Giưa nhân gian bủa dựng một bầu trời

Đài vũ trụ hồn nhiên bao rạng tỏ

Một nụ cười thế giới sẽ chia đôi…

(Ly Tao 2)

Hay:

Bây giờ đối diện riêng tôi

Còn hai con mắt khóc người một con

(Mắt buồn)

 Ta cũng tìm thấy một cái tôi đi tìm lại thời ấu thơ xưa cũ:

Bao lần anh cùng chúng em lận đận

Bôn ba băng rú rậm luống rùng mình

Những bận nào Quế Sơn Rù Rì con suối ngược

 Nước trôi nguồn suối lũ cuốn phăng phăng

(Nỗi Lòng Tô Vũ)

Như vậy, những biến cố trong cuộc đời cùng với tình yêu quê hương tha thiết, tấm lòng luôn hướng về  vẻ đẹp hoài cổ đã tạo nên cái tôi đầy ắp những kỷ niệm trong thơ Bùi Giáng đặc biệt nó được thể hiện một cách sâu sắc trong Mưa nguồn.

2.2. Tập thơ  Mưa nguồn-Cái tôi  trữ tình suy tư về thân phận con người.

Từ hiện thực đau khổ của bản thân: đó là nỗi ám ảnh về cái chết của người vợ trẻ của mình. Ông ý thức rõ cội nguồn của nỗi đau khổ nằm ngay trong bản chất của con người, trong hiện hữu của chính nó. Những nghi vấn và hoài nghi có tính bản thể người luôn hiện diện trong thơ Bùi Giáng:

Em chết bên bờ lúa Để lại bên đường mòn

Một dấu chân bước của Một bàn chân bé con

Anh qua miền cao nguyên Nhìn chân trời bữa nọ

Đêm cuồng mưa khóc điên

(Bờ lúa)

Bùi giáng  đã nhận ra sự hữu hạn của kiếp người. Yêu thiết tha cõi trần gian, nhiều khi ông nhìn trời đất như đứa bé. Ông hỏi sông: “Ngàn mây về mãi cuối trời xa. Nước có bằng lòng đứng đợi ta”. Ông bập bẹ: “Trần gian ôi cánh bướm cánh chuồn chuồn. Con kiến bé cùng hoa hoang cỏ dại. Con vi trùng sâu bọ cũng yêu luôn”. Ông kêu lên thảng thốt: “ồ gót chân, anh đứng ngó như ngây”. Ông òa khóc không gìn giữ: “Em ra đi đời bưng mặt khóc òa”. ..

Trong thơ Bùi Giáng có thể thấy sự dịch chuyển, đổi thay của không gian, thời gian, bản chất và hiện tượng. Bùi Giáng buộc mình ý  thức sự ra đi của xác thân, của tình yêu, của vạn vật trong cõi ban sơ:

Em về mấy thế kỉ sau

Nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy không

(Từ Kỷ Niệm Đầu)

Dấu ấn trong sáng tác của Bùi Giáng ta thấy được sự tự tại và tạo cho mình một cốt cách riêng, một minh triết trong đời sống để xác định “cõi điên” của mình :

Xin yêu mãi yêu và yêu nhau mãi

Trần gian ôi! Cánh bướm cánh chuồn chuồn

Con kiến bé cùng hoa hoang cỏ dại

Con vi trùng cùng sâu bọ cũng yêu luôn

(Phụng Hiến)

Tấm lòng nhân ái trải dài trong văn thơ của ông, ông  luôn dấn thân vào đời như một kẻ đương đầu với cuộc sống:

Tôi chấp thuận trăm lần trong thổn thức

 Tôi bàng hoàng hốt hoảng những đêm đêm

Tôi xin chịu cuồng si để sáng suốt

Tôi đui mù để thỏa dạ yêu em

(Phụng Hiến)

Trong thơ của Bùi Giáng luôn mang chủ nghĩa xê dịch và ông tự nhận mình là người điên viết những bài thơ bằng ngôn từ bất chợt, bừng tỉnh để mong đời hãy hiểu lòng ông:

Người điên ngôn ngữ điệp trùng

 Dở chừng như mộng dở chừng như mê

Thưa em ngôn ngữ quặt què

Làm sao nói được nghiệp nghề người điên

Như vậy, trong tập Mưa nguồn, cho thấy cái tôi suy tư về thân phận con người của Bùi thi sĩ được biểu hiện rất rõ. Ông đã đem đến cho bạn đọc những suy tư, những trăn trở, hoài nghi về kiếp người.

3.TẬP THƠ MƯA NGUỒN CỦA BÙI GIÁNG  NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT

            3.1.Giọng điệu thơ

Ấn tượng trong giọng điệu thơ Bùi Giáng mà chúng tôi bắt gặp đầu tiên đó chính là giọng đối thoại. Trong Mưa nguồn, Bùi Giáng cũng đã tạo nên những cuộc đối thoại với trời đất thiên nhiên hoa cỏ bốn mùa, đối thoại với người kim cổ Đông Tây, đối thoại với chính bản thân mình:

                  Hỏi rằng: người ở quê đâu

                         Thưa rằng: tôi ở rất lâu quê nhà

                                     Hỏi rằng: từ bước chân ra

Vì sao thấy gió dàn xa dặm dài…

(Chào Nguyên Xuân)

 

Như vậy chúng ta thấy rằng, giọng đối thoại trong thơ Bùi Giáng được cất lên trong những cuộc trò chuyện vô hình. Tức là, người sáng tạo như đang phân thân thành nhiều nhân vật theo sự phát triển của dòng cảm xúc, để làm nên một cuộc đối thoại ngầm - đối thoại trong độc thoại. Chính điều này tạo nên tính trữ tình độc đáo trong thơ Bùi Giáng.

Khi thì nhà thơ bộc lộ  một giọng điệu , chân thành, tha thiết  với tình yêu cuộc sống, yêu con người:

Xin yêu mãi yêu và yêu nhau mãi

                                       Trần gian ôi! Cánh bướm cánh chuồn chuồn

                    Con kiến bé cùng hoa hoang cỏ dại

Con vi trùng cùng sâu bọ cũng yêu luôn

(Phụng hiến)

 Đôi khi thi sĩ một giọng điệu mạnh mẽ, quyết liệt trước tình yêu trần gian

Tôi đã nguyện yêu trần gian nguyên vẹn

                      Hết tâm hồn và hết cả da xương

(Phụng hiến)

Có lúc nhà thơ lạimang giọng điệu đau khổ, sững sờ trong tuyệt vọng:

Từ đây chân bước về ta sợ

Không nói nữa rồi! tiếng bặt âm  

(Tàn nhẫn)

 

Đằng sau nỗi giọng điệu buồn, tuyệt vọng nhà thơ vẫn giữ cho mình sự tha thiết

Ngày sẽ hết tôi sẽ không trở lại

Tôi sẽ đi và chưa biết đi đâu

Tôi sẽ tiếc thương trần gian mãi mãi

Vì nơi đây tôi sống đủ vui sầu

(Phụng hiến)

 

              Mình ơi! Tôi gọi bằng nhà Nhà ơi!

Tôi gọi mình là nhà tôi

(Về buôn bán)

Như vậy, dù ở những trạng thái cảm xúc đối cực: buồn, vui, đau khổ, thất vọng, tuyệt vọng thì thi Bùi Giáng vẫn cất lên giọng tha thiết, đắm say. Nhà thơ luôn hướng về độc giả như để giãi bày, tâm sự, như để cất lên tiếng thơ yêu đời tha thiết chính giọng điệu tha thiết đã sợi dây lan truyền cảm xúc đến mỗi độc gỉa.

 

3.2 NGÔN NGỮ

Trong Mưa nguồn, Bùi Giáng còn có kiểu sử dụng từ ngữ sinh hoạt Ví dụ: chết điếng, vén xiêm, nghĩ mà kinh, nhe răng, ù té, thì thôi, quái gì, sực nhớ, chó sủa, chửa hoang, thôi rồi, bực quá, xương xẩu, lát nữa, lỗ chân lông, mớ tóc, thôi chết, quả thật, gây cấn (gay cấn), lẽo đẽo, có vui gì, hoặc có thể, không chịu nỗi, còn lưa, thôi đã uổng, rủ rê, ừ thế sao, phen này, phen nữa, căng thẳng, ngại, không hề, mặc sức, mình mẩy, dù sao nữa…

 

  Trong Mưa nguồn, Bùi Giáng sử dụng các từ ngữ mà trật tự các yếu tố trong từ và trật tự các từ trong cụm từ có sự đảo ngược so với mô hình ngữ pháp quen thuộc của tiếng Việt như: lịch sử được gọi là sử lịch, phôi pha thì gọi là pha phôi, xanh đời, xanh lá, xanh cây dùng thay cho đời xanh, lá xanh, cây xanh, dại cỏ thay cho cỏ dại, sợ hãi được gọi là hãi sợ Các từ như ngửa ngang, xanh trời, thu rừng, khô cành, bay mây, thu sen…đều có cấu trúc đảo ngược như thế.Ở  cụm từ được Bùi Giáng sử dụng theo cấu trúc đảo ngược trật tự các từ. Ví dụ như: cười môi em, ngó nữa trăng, hường cánh hoa, rừng đêm xanh, thơ ngây lệ, lưa thưa lá, bềnh bồng mây, giọt ngần sương, hồng hoa đỏ, bước hờ hững đi, đuôi đứt, ngó mắt, nghe tai…

     Những tìm tòi, sáng tạo của Bùi Giáng trong việc đảo các thành tố của từ đã giúp ông tạo nên những từ ngữ lạ lùng, những hình ảnh tân kỳ, gây bất ngờ và hứng thú cho độc giả. Từ đó cho thấy những kiểu kết hợp từ ngữ, cụm tử  độc đáo này tạo nên những câu thơ in đậm cá tính sáng tạo của ông.   

 

3.3. Không gian và thời gian nghệ thuật

           3.3.1.không gian và không gian nghệ thuật

Tập thơMưa nguồn là những kỷ niệm khôn nguôi về mảnh đất quê hương, là nỗi nhớ niềm thương về hoài niệm của quá khứ. Nó còn là những mộng mị, chiêm bao về kiếp người. Trong tập thơ Mưa nguồn  có hai loại không gian chủ yếu đó là: Không gian của quê hương xứ Quảng và Không gian mộng tưởng.

Trong Mưa nguồn, Bùi Giáng đã mở ra nột không gian Quảng Nam - một trong những xứ nghèo của miền Trung - nơi những con trên non hằng năm vẫn chảy về xuôi, cuốn trôi phăng đồng. Những dòng nước đục cuộn qua, vườn tược tiêu điều và lòng người thê thảm lắm:

  Em về ở lại đây thôi

Nghe mùa nước lũ nguồn trôi phăng đồng

Một trăm cây lá bên rừng

Gửi trong tiếng vọng xa chừng ngàn mây

 Mười con xóm nhỏ bên này

 Nhắc nhau nhớ lại cái ngày bên kia

(Tiếng vọng)

 

Cảnh vật từ những  hòn đá bờ khe, từng chân mây mái rạ, từng bóng nắng chiều, từng bờ sông bóng mạ… tất cả những hình ảnh thân thương thân quen của hồn quê  Việt  đều mang trọn tâm tình con người hóa thân vào thơ ông rất mực tự nhiên cũng rất đỗi tài hoa:

Nhìn, em nhé, bên bờ kia gió thổi

xanh vườn theo cỏ mượt ngân nga

Tơ vi vút một đời thương nhớ tuổi

Của trăng dằm xuống dọ dẫm bên hoa

(Bờ Nước Cũ)

Như vậy, không gian quê hương xứ Quảng với những hình ảnh thiên nhiên tươi đẹp chính là nơi để cái tôi trữ tình đầy ắp những kỷ niệm nương tựa. Ở đó, ta thấy một hồn thơ luôn giao hòa với thiên nhiên cuộc sống, một tình yêu quê hương sâu đậm đã trở thành nỗi ám ảnh trong ông.

Bên cạnh không gian quê hương xứ Quảng, trong tập Mưa nguồn, không gian mộng tưởng, của chiêm bao, ảo đầy khắp. được dựng lên để tác giả có thể thỏa những khát vọng, những cảm xúc trong tâm hồn mình. Trong Mưa nguồn, tràn ngập không gian đó là một thế giới mộng. Nó được biểu hiện rõ ràng nhất thông qua danh từ “mộng”. Bùi Giáng để mộng kết hợp với những danh từ chỉ địa điểm để chỉ ra nguồn gốc, xuất xứ của giấc mộng như: mộng nguồn - Thời gian xê xích có bao nhiêu / Những mộng nguồn bay giữa gió nhiều (Anh đi về giữa) hoặc với những danh từ khác để xác định phạm vi, không gian tồn tại của thế giới mộng. Thuộc trường hợp này có thể kể đến mộng giữa mộng, mộng giữa hoa tâm, mộng trong tay, mộng trong sương…

Ý thức rõ cuộc đời này vốn chóng qua, mỗi tích tắc trôi qua một bước tịnh tiến tới điểm cuối cuộc đời. Thi sỹ vốn ham sống nên luôn nuối tiếc cuộc đời, ông muốn trở về nơi bắt đầu để mong kéo dài cuộc lữ hành trần gian. Đây là tâm thế thường trực của Bùi Giáng trong Mưa nguồn, là tâm sự, là cảm hứng chính để ông sáng tạo ra từ mộng nguồn đầy ám ảnh.

3.3.2.Thời gian và thời gian  nghệ thuật

Thời gian hiện thực mà Bùi Giáng đề cập chủ yếu trong Mưa nguồn là thời gian trong trạng thái phai tàn.

Với tay sầu khổ hao mòn

Đầu nghiêng rũ tóc miệng tròn thơ ngây

Chiêm bao dàn rộng phai này

Liễu in giòng rụng thu đầy hồ phơi

(Sầu Lục tỉnh)

Trong tập Mưa nguồn, thời gian hiện thực được Bùi Giáng phản ánh một cách tập trung nhất, rõ ràng nhất đó là hai thời điểm là chiều tối    mùa thu.

-    Chiều xuống rồi tơ lòng rộn ràng rối                    (Nỗi lòng Tô Vũ)

-   Chiều đem mây trắng bủa xanh trời                         (Em đi về giữa)

 

-   Gió đêm về mở                                                           (Không đủ gọi)

-   Sao đêm đổ xuống triều đầy                                              (Mái hiên)

-   Và sương sớm hay chiều buông liễu                          (Một buổi trưa).

Khoảng thời gian tiêu biểu thứ hai là mùa thu. Qua tập thơ Mưa nguồn, tác giả Bùi Giáng dành 58 lượt từ gọi tên mùa thu. Đây là một tỷ lệ khá cao, là một dấu hiệu gợi mở ra nhiều điều, tạo nên phong cách riêng của  tác giả không thể không chú ý. Nhắc đến mùa thu, người ta dễ liên tưởng đến nỗi buồn thương trước sự tàn phai. Trên cái nền khung cảnh chung đó, mùa thu đi vào thi ca, đi vào lòng người với tâm trạng của một mùa buồn - thương - tiếc. Bùi Giáng cũng không nằm ngoài thông lệ ấy.

Nếu thời gian hiện thực trong Mưa nguồn đã đặt con  người  và thiên nhiên vào trạng huống tàn lụi, và lẽ dĩ nhiên, khi phải hằng ngày đối diện với sự tàn tạ của cỏ cây hoa lá, của tình lứa đôi, của thân thế con người, chúng ta luôn nuối tiếc thời gian vàng son, thời gian sinh sôi nảy nở của vũ trụ. Chính những điều này đã dẫn đến một hệ quả kiểu thời gian tâm trạng trong thơ Bùi Giáng. Trong Mưa nguồn, ta thấy bóng dáng của thời gian tiếc nuối, thời gian ngóng trông, thời gian buồn nhớ đầy khắp. Điều này tạo nên kiểu thời gian tâm trạng nổi bật trong tập thơ này.

Thật vậy, đọc Mưa nguồn, độc giả thường xuyên bắt gặp những từ ngữ chỉ những cung bậc cảm xúc, những sắc thái tình cảm như:Tiếc nuối - nhớ thương: dấu chân người xưa, nhớ nhung trời bữa trước, tư lự sóng hôm sau, níu thu hường đã phai, níu lại dòng sông chảy, ngàn sau hoài vọng, tiếc thương trần gian, xuân sắp rụng mất rồi, ngày tháng tiếc thương, nỗi niềm xưa, thao thức nghe mùa tan, vang ngày trước đâu rồi, tìm xa vắng, ghì giữ ân tình, thuở xưa kia, nhớ vô cùng bữa nọ, thương tiếc mãi, giòng hoài cảm, nhớ lại lần xưa, lòng nhớ nhung, bến cũ ngậm ngùi, đợi khắp nẻo đường, em đừng đi, tiếng cũ ngậm ngùi, ngàn thương nhớ, ngân lời hoài vọng cũ, kỉ niệm đi về, nhớ đốt gan, đất thương nhớ, canh dài tiếc thương, nhớ ngang ngửa dưới trăng, nắng buồn thương nhớ, một trời thu để nhớ nhung, bàn chân nhớ phố xa

Buồn đau: Khổ đau khôn hàn, đời xuân lay lắt, tuổi thơ buồn, giòng lệ khóc, nửa đời khổ đau, sầu một thuở, đêm ứa lệ, sầu gieo ngang ngửa, thế kỷ đau thương, những buổi chiều buồn, sầu hận thiên thu, sầu kỉ niệm, nỗi đời thê thảm, sầu hoang vu, đêm võ vàng, sầu thiên cổ, đời bưng mặt khóc oà, buồn tiêu tao, buồn tinh tú, sầu vĩnh hạ, hiu hắt đợi, vàng mong, ngàn thu hận…

Biệt ly: Vĩnh biệt trần gian, tơi bời ly biệt, ngàn năm ly biệt, mấy đời ly biệt, vĩnh biệt dĩ vãng, người đi bỏ lại giữa người, giã từ vạn thuở, vĩnh biệt thiên thu, ngàn năm vĩnh biệt, tiếng chào…xa rồi, đường thu chia ngả, ly biệt tơi bời, buổi mai ly biệt, ly biệt mai sau, niềm ly biệt…

Nỗi đau quá lớn, biệt ly luôn hiện hữu như một nỗi nhức nhối tâm can, dường như thi sỹ mang trong mình cả nỗi buồn nhân thế bao la, rộng lớn. Bởi thế, đọc Mưa nguồn, độc giả dễ bắt gặp những từ ngữ chỉ đơn vị thời gian rất lớn kết hợp với những từ ngữ chỉ sự chia ly như: mấy ngàn năm ly biệt, mấy đời biệt ly, giã từ vạn thuở, vĩnh  biệt  thiên thu, ngàn năm vĩnh biệt, một đời ly biệt… Đọc Mưa nguồn, độc giả bắt gặp những đơn vị từ ngữ chỉ thời gian lớn, khoảng cách xa, mức độ cao kết hợp với những từ ngữ gợi lên nỗi đau như: ngàn năm khổ đau, khổ đau khôn hàn, nửa đời khổ đau, đời sầu, sầu thiên cổ, sầu hoang vu, sầu một thuở, sầu ngàn năm, sầu mấy dặm đường, sầu hận thiên thu, đời thê thảm, ngàn thu hận, buồn tinh tú, nguyệt hờn, hờn núi sông

Tác giả Mưa nguồn luôn chìm đắm trong những ám ảnh thời gian khôn nguôi như thế, luôn giằng xé giữa thực tại phũ phàng và quá khứ ăm ắp kỉ niệm. Trở về với quá khứ là một cách để tự an ủi lòng mình, một cách để kiếm tìm hạnh phúc. Nhưng hạnh phúc với Bùi Giáng thật giản dị và cũng thật đặc biệt, không giống bất cứ ai.

Ta sẽ đợi nghe đời em kể lại

Thuở xưa kia… bờ nước ấy xưa kia

 Ta sẽ đợi nghe đời em nói mãi

Bên đời ai vạn đợi đã chia lìa

(Xuân Thu Trang Phượng)

Như vậy, trong Mưa nguồn, những từ ngữ chỉ thời gian luôn ngập tràn một sự buồn thương luyến nhớ. Ta dường như không thấy bóng dáng của những ngày tháng hạnh phúc, vui vầy mà toàn những ngày buồn, đêm nhớ, mùa đau thương. Có chăng, đó chỉ là những ngày vui trong quá khứ hiện về trong hoài niệm hay những huyễn hoặc trong tương lai. Nhưng những niềm hạnh phúc nhỏ nhoi này lại chỉ được hiện về trong rêu phong nỗi nhớ. Nó được cộng hưởng với kiểu thời gian hiện thực héo úa cũng luôn hiện hữu làm nên biểu tượng về sự phôi pha trong Mưa nguồn của Bùi Giáng.

 

C.KẾT LUẬN

Bùi Giáng không phải là một nhà thơ của chủ nghĩa tượng trưng. Nhưng với tập Mưa nguồn, nghệ thuật sử dụng các hình ảnh biểu trưng được đã tác giả phối hợp tuyệt vời với trò chơi ngôn ngữ, vốn là một sở trường của nhà thơ nhiều chất triết gia này. Mưa nguồn là cả một thế giới mang tầm vóc vũ trụ, trong đó hình ảnh con người và tự nhiên hòa lẫn vào nhau và vận động, xoay chuyển cùng nhau. Mưa nguồn là thế giới mở ra từ biểu tượng Một thế giới mà con người là “hiện thể” hơn là chủ thể. Trong thế giới ấy, mỗi hình ảnh, mỗi từ của bài thơ như những con xúc xắc của trò chơi ngôn ngữ được gieo xuống tình cờ nhưng có sức thu hút lạ lùng để vẫy gọi người thưởng thức thơ đi vào những cung đường bất tận. Mỗi bước đi vào thế giới của Mưa nguồn đều đầy ắp những hình ảnh giàu sức gợi, những cảm xúc có khi thì ồn ào mãnh liệt nhưng có lúc lại mơ hồ tan nhanh như sương khói.

 

 

Tài liệu tham khảo

1.      Bùi Giáng, Mưa nguồn, NXB. Văn hóa – Văn nghệ, 2012.

2.      Đỗ Lai Thúy, Thơ như là mỹ học của cái khác, NXB. Hội nhà văn, 2012.

3.      Đỗ Lai Thúy, Mắt thơ, NXB. Hội nhà văn, 2012.

4.      Northrop Frye , “Three Meanings of Symbolism”, Yale French Studies, No. 9, Symbol and Symbolism (1952), pp. 11 – 19, http://www.jstor.org/stable/2929052.

5.      Oreste F. Pucciani, “The Universal Language of Symbolism”, Yale French Studies, No. 9, Symbol and Symbolism (1952), pp. 27 – 35, http://www.jstor.org/stable/2929054.

6.      Paul De Man, “The Double Aspect of Symbolism”, Yale French Studies, No. 74, Phantom Proxies: Symbolism and the Rhetoric of History (1988), pp. 3 – 16, http://www.jstor.org/stable/2930287.

7.      René Wellek, “The Term and Concept of Symbolism in Literary History”, New Literary History, Vol. 1, No. 2, A Symbosium on Periods (Winter, 1970), pp. 249-270, http://www.jstor.org/stable/468631.

 


TPHCM, 6.7.2021
TRƯƠNG HOÀNG LONG



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

VĂN HOÁ GIAO TIẾP của NGƯỜI NAM BỘ qua TIỂU THUYẾT HỒ BIỂU CHÁNH – MỘT GÓC NHÌN                                                             ...