Thứ Sáu, 4 tháng 6, 2021

“Hà Nội băm sáu phố phường” – Chút hoài niệm về thủ đô ngàn năm văn hiến

 


“Hà Nội băm sáu phố phường” là tập bút kí nổi tiếng của nhà văn Thạch Lam. Thạch Lam (1910 – 1942), tên thật là Nguyễn Tường Lân, sinh tại Cẩm Giàng, Hải Dương. Ông là cây bút tiêu biểu thuộc nhóm Tự lực văn đoàn. Tập bút kí “Hà Nội băm sáu phố phường” được tập hợp lại từ những bài viết in trên báo sau khi ông qua đời, như để nói hộ cho mọi trái tim tin yêu luôn hướng về thủ đô, rằng “Hãy yêu mến Hà Nội với tâm hồn người Hà Nội”. Theo Thạch Lam: “Người Pháp có Paris, người Anh có London, người Tàu có Thượng Hải. Trong các sách vở, trên các báo chí, họ nói đến thành phố của họ một cách tha thiết, mến yêu”. Người Việt Nam ta, ta tự hào khi có Hà Nội.

Hà Nội băm sáu phố phường” chủ yếu viết về chuyện phố, chuyện phường, đời sống dân sinh, đặc biệt là đi sâu vào những thức quà chỉ riêng nơi đây mới có. Đến với những trang viết xinh xinh kia, Hà Nội xưa hiện ra ở nhiều góc cạnh cùng các đặc trưng riêng, tạo nên sức quyến rũ lạ kì, níu chân bất cứ vị khách nào lại qua. Đó là những mái nhà cổ kính khoác lên mình lối kiến trúc độc đáo, dáng vẻ quanh co nhưng rất đỗi mềm mại của những con phố quen thuộc, là nét văn hoá ẩm thực tinh tế... giữa không gian êm ả, thanh bình, rộn rã mà trầm mặc. Nói cách khác cuốn sách đã giúp người đọc nhìn thấy cả vóc dáng và tâm hồn Hà Nội.

Hai mươi mốt bài kí nhỏ như hai mươi mốt bức họa đầy hoài niệm, dựng nên hình bóng Hà Nội xưa. Ta sẽ bắt gặp nhiều cảnh đời qua những mẩu chuyện ngắn hết sức xúc động. Họ là những người phụ nữ tần tảo, sống một cuộc đời lầm lũi, vất vả với gánh nặng cơm áo gạo tiền. Bên cạnh đó, thấp thoáng giữa các số phận éo le, ẩn hiện tình yêu đôi lứa trong sáng và thuần khiết. Tất cả đều là những câu chuyện về những con người Hà Nội, nép mình dưới những khu phố khác nhau, với những mảnh ghép cuộc đời khác nhau, hiện lên đơn sơ bằng ngòi bút chân thực của tác giả. Ông đã nhắc đến “nghệ thuật biển hàng” đang dần biến mất vì sự Tây hóa, học đòi của các chủ quán khiến văn hóa tiếng việt của dân tộc bị lu mờ. Với “Hà Nội băm sáu phố phường”, tác giả cũng bày tỏ niềm thương cảm tới những người bán rong – những thân phận bé nhỏ, lam lũ kiếm sống, mưu sinh trong đêm. Tôi chợt nhận ra rằng đằng sau một Hà Nội phồn hoa vẫn còn đó những mảnh đời nhọc nhằn cơ cực đến thế. Khi tất cả chìm trong màn đêm, những tiếng rao như mở ra một thế giới mới của Hà Nội, một thế giới không ồn ào, không vội vã mà là một Hà Nội tĩnh lặng chứa bao nỗi lo toan.

Nhưng ấn tượng hơn cả trong tác phẩm của Thạch Lam có lẽ là những trang về văn hoá ẩm thực của người dân Hà thành. Qua cách những hàng chữ nhẹ nhàng thủ thỉ, các thức quà Hà Nội xưa hiện lên khiến bất cứ ai cũng phải xuýt xoa, phải gật gù, phải thèm thuồng, phải say đắm. Đó là “Bún sườn và canh bún”, “Bánh đậu”, “Bánh khảo, kẹo lạc”… mỗi thức quà đều được tác giả đặc tả khéo léo nhằm mang tới một hình dung rõ nét nhất về phong vị của người Tràng An. Hơn thế, ông còn đẩy những món ăn ấy lên một tầm cao hơn khi khẳng định qua bài kí: "Quà ... tức là người". Đối với Thạch Lam, ăn quà không đơn thuần là nếm những sản vật trong trời đất mà là sự cảm nhận những tinh hoa, là thần thái, cũng như bộc lộ nét văn hóa trong cách thưởng thức khi "Ăn quà cũng là một nghệ thuật.”

Trong số những người yêu Hà Nội, tôi tin, Thạch Lam là người yêu Hà Nội hơn cả. Chỉ qua một tập tùy bút nhỏ, độc giả đã có thể thấy tâm hồn một Thạch Lam như đồng điệu với Thăng Long cổ kính, ngàn năm văn hiến, tinh tế và thanh lịch đến nhã nhặn, thanh tao. Nhà văn phố huyện Cẩm Giàng đôi khi chỉ cần vài ba dòng, vài ba câu mà gợi được cả hình ảnh về Hà Nội, không phải ở những khung cảnh sôi động, ồn ào, không phải ở những vấn đề xã hội gay gắt mà như một góc khuất lặng lẽ và chỉ người nào yêu Hà Nội lắm mới có thể nhận ra. Với một lối hành văn nhẹ nhàng, thanh thoát, Thạch Lam đã bất tử hóa những cái bình thường, làm rung động con tim người mến thương Hà Nội. Biết bao nghệ thuật trong một bức tranh nhỏ mà sắc nét. Và đến được với nghệ thuật ấy không phải chỉ có tài, mà còn phải có lòng yêu, yêu thành thực, yêu những cái bé bỏng của những đời bé bỏng, nghĩa là yêu Hà Nội, vì cái bé bỏng ấy tức là tất cả Hà Nội.

Giọng văn của Thạch Lam không gay gắt, khoa trương, chỉ nhỏ nhẹ như một lời thủ thỉ của thiếu nữ đang tâm tình với người thương. Dù nơi chốn kia có đang trở nên hỗn tạp bởi sự giao thoa văn hóa thì cơn giận của nàng thiếu nữ ấy vẫn êm ái, mềm mại, có phần oán trách, chê bai. Song Thạch Lam cũng rất khéo khen. Nhưng không phải những lời sáo rỗng, xoay quanh tình yêu với thành phố ông đang sống. Nhờ lối viết kiệm lời nhưng vẫn sắc sảo, Hà Nội đẹp bởi nó có những món ngon với phong vị lạ lẫm, những người chủ quán cho ra đời vô vàn tuyệt phẩm mê đắm khiến người ta sẵn sàng bỏ công, bỏ sức để được thưởng thức.

Đó là hình ảnh Hà Nội trong ký ức xưa cũ, hướng mắt về hiện tại, thủ đô còn được như thế hay không? Những nét đẹp văn hoá, cả một bề dày trầm tích đất thủ đô dường như dần bị mai một, tàn phai theo tháng năm. Hà Nội năm 2016 đang bước những bước hối hả trên con đường phát triển. Nhưng phải chăng, vì quá nhanh nên sẽ tồn tại cả đớn đau? Vẫn còn những nét cổ kính trầm mặc nhưng trong lòng Hà Nội âm thầm từng ngày nếm nỗi đau bởi ô nhiễm và khói bụi độc hại. Với sự biến đổi đó, những người mang hồn phách bay bổng và lòng yêu đau đáu dành cho Hà Nội như Thạch Lam sao nén nổi tiếng thở dài xót xa. Bởi vậy, qua những dòng văn đầy xúc cảm và tình yêu ấy, tác giả như gửi gắm đến thế hệ đi sau lời khuyên sâu sắc: Dù hội nhập, dù hòa vào quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa hiện nay, con người Tràng An thanh lịch và cả thành phố dấu yêu này hãy cùng lắng lại, giữ trọn lấy những giá trị văn hóa cốt lõi, những tinh hoa của một thời vàng son. Tác phẩm là lời nhắc nhở chúng ta cần chung tay bảo vệ gốc rễ dân tộc, xây dựng thủ đô ngày càng giàu đẹp hơn. Cái hồn của Hà Nội xưa vẫn còn, người Hà Nội vẫn rỉ tai nhau về những quán ăn ngon để thưởng thức; những địa điểm đẹp để thả hồn; những góc riêng để tâm sự. Băm sáu phố phường đất kinh kỳ xưa tựa như một chiếc gương đã vỡ, nhưng không có lý do gì để chúng ta không yêu từng mảnh vỡ ấy, vì Hà Nội đẹp khi con người đẹp.

“Hà Nội băm sáu phố phường” đã thể hiện tấm lòng trân trọng của Thạch Lam đối với văn hoá và quá khứ của Hà Nội. Ai trong chúng ta cũng nên có trong tay cuốn sách này - tập bút ký nổi tiếng chỉ dành riêng cho vẻ đẹp Hà Nội, để tự mình hít hà đầy lồng ngực hương thơm một góc nhỏ xưa cũ, thả hồn vào dòng lịch sử mênh mang của thủ đô yêu dấu và cảm nhận thực sự những nét đẹp đó trong mỗi trái tim, để nhớ mãi rằng Hà Nội xinh xắn lắm, đừng cứ mơ về những nơi xa xôi mà chẳng mơ về Hà Nội.”


TPHCM, 4/6/2021

TRƯƠNG HOÀNG LONG





Thứ Năm, 3 tháng 6, 2021

Trần Bảo Định - một tác giả đặc sắc trong dòng “văn học sinh thái”

 



    Không tính 6 tập thơ “thù tạc” bảy tỏ ân nghĩa với quê hương, bạn bè, người thân, Trần Bảo Định (TBĐ) - “nhà văn - không thẻ” mới nhập cuộc làng văn với tập truyện Kiếp Ba Khía năm 2014, nên tôi gọi ông là “nhà văn trẻ”, mặc dù TBĐ sinh năm 1944, tức là đã ở tuổi “xưa nay hiếm”. Điều đáng kể hơn là chỉ mấy năm qua, TBĐ ra sách liên tục, đều do Nxb. Văn hóa - Văn nghệ TP. HCM làm “bà đỡ”. Sau Kiếp Ba Khía (2014), tiếp Đời Bọ Hung (2015) và năm 2017 in liền 2 tập: Phận lìm kìm ra tháng 3, còn Chim phương Nam đang thơm mùi mực… Cuối năm nay, TBĐ còn có Ông già Nam Bộ nhiều chuyện (hai tập - Nxb. Hội Nhà văn).

    Nói cho đúng thì cả 4 tập văn xuôi của TBĐ đều đậm đà… mùi “đất phương Nam”. Bạn văn Bích Ngân khi đảm trách Tổng Biên tập Nxb. Văn hóa - Văn nghệ TP. HCM - đã nhận xét về văn xuôi TBĐ:

“…Tác giả sử dụng nhuần nhuyễn ngôn ngữ Nam Bộ một cách dân dã, hài hước, thú vị qua những sự đời, sự người, sự vật… với tính cách riêng, bằng vốn sống tích lũy và sự am hiểu sâu rộng của mình…”.

    Còn tôi, qua tập truyện thứ 4 này của TBĐ, càng khẳng định ông xứng danh là “người kể chuyện dân gian hiện đại”. Chúng ta đều biết, nhiều truyện dân gian mượn con vật để nhắc nhở con người. TBĐ thì cả 4 tập truyện đều lấy nhan đề bằng tên con vật; tuy vậy, 3 tập trước, trong nhiều truyện, con vật chỉ là kẻ làm chứng, là “nhân vật” phụ để tác giả gửi gắm ý tưởng của mình; còn Chim phương Nam (CPN), tất cả 27 truyện, “nhân vật” chính đều là… chim! Cuốn sách ghi là “Tạp bút”, nhưng đúng như anh Hàn Tấn Quang (Chủ biên Tạp chí Kiến thức ngày nay) đã viết trong “Thay lời tựa” là những trang viết của TBĐ “không phải truyện mà thành truyện.” Hầu hết, đều đã đăng trên Kiến thức ngày nay; riêng truyện “Bìm bịp tiếng kêu thương”, TBĐ dành riêng cho Sông Hương Số đặc biệt tháng 6/2016. Hàn Tấn Quang hỏi “Vì sao”, TBĐ tủm tỉm cười: “Uống nước nhớ nguồn! Nếu Nguyễn Hoàng không vào đất Thuận Hóa (Đàng Trong) thì chắc gì có người Việt lưu dân vô phương Nam khẩn hoang lập ấp. Và rồi, chim Việt lạc xứ biết cành Nam ở phương nào mà tầm về xây tổ”!

    Vậy mà nay, phương Nam với “mũi thuyền ta đó Mũi Cà Mâu” (thơ Xuân Diệu) vẫn đó, nhưng biết bao loài chim không còn nơi xây tổ và đang bên bờ vực tuyệt chủng!

    Cả 4 tập truyện, và đặc biệt với CPN, nhà văn TBĐ có lẽ là cây bút lập kỷ lục viết về loài vật trong làng văn Việt Nam. Cũng như nhiều nhà văn khác (như Nguyễn Quang Sáng với “Con mèo Fujita”, Kim Lân với “Con chó xấu xí”, Nguyễn Công Hoan với “Con ngựa già”, Nguyễn Văn Bổng với “Con trâu”…), TBĐ cũng “mượn loài vật” để gửi gắm những triết lý về nhân sinh, thời cuộc, nhưng bằng sự tập trung toàn truyện các loài chim trong CPN và nhiều truyện về nhiều loài vật khác trong 3 cuốn sách trước, TBĐ đã liên tục phát tín hiệu S.O.S. kêu cứu cho môi trường sinh thái đang bị con người hủy hoại với một tốc độ khủng khiếp, đến mức mà nhà văn từng đoạt giải Nobel Mạc Ngôn đã phải kêu lên: “Văn học của chúng ta kỳ thực gánh vác trách nhiệm to lớn, chính là trách nhiệm cứu lấy trái đất, cứu lấy nhân loại…” vì “Những ngày tháng tốt đẹp của nhân loại đã không còn nhiều nữa!” (Dẫn theo sách “Rừng khô, suối cạn, biển độc… và văn chương” của Nguyễn Thị Tịnh Thy). Như thế, có thể nói, TBĐ là một cây bút có đóng góp rất đặc sắc trong dòng “văn học sinh thái” đang ngày càng được chú ý; và do đó, các tác phẩm của ông, ngoài nét riêng là thể hiện cuộc sống vùng đất Nam Bộ một cách “dân dã, hài hước” bằng vốn tích lũy suốt cả cuộc đời sống giữa lòng dân vùng đất châu thổ đồng bằng sông Cửu Long, đã vươn tới một chiều kích rộng lớn hơn và rất thời sự nữa.

    Nhiều truyện trong CPN có cái kết làm chúng ta đau lòng, khi những con chim là bạn thân thiết của con người bị đưa lên bàn nhậu. Như con le le trở thành bạn của Đực Nụi, khi anh về cất chòi tại ngã ba Vàm Dưng, thậm chí nó làm nhiệm vụ cảnh giới, báo trước khi sắp có lính đi ruồng bố thì bầy le le rối đội hình bay về hướng chòi của anh; nhưng rồi con người “nhằm thỏa mãn ham muốn dục vọng… ngày nào le le cũng bị bắt bằng bẫy lưới do bọn “le le mồi”…”. Và khi nghe hung tin cả bầy le le bị hốt trọn lên xuồng, mặc dù le le trống tinh khôn dùng kế “điệu hổ ly sơn” lao mình trước mũi xuồng hòng cứu vợ con, “Đực Nụi ngồi uống hơn lít rượu một mình say bí tử” rồi thốt kêu lên: “Ác lai ác báo!” (Truyện “Le le, nỗi đau của mẹ”).

    Trong truyện “Bìm bịp tiếng kêu thương”, chúng ta gặp những trang văn rưng rưng kỷ niệm tuổi thơ của chính tác giả nơi quê ngoại: “Đầu hạ, bìm bịp đẻ. Đầu thu, cả vợ lẫn chồng cùng gánh vác việc nuôi con, nó chẳng ly thân ly dị bao giờ. Mái nhường miếng mồi ngon cho chồng cho con… Tôi đã rình coi bữa ăn chiều sum họp của “gia đình bìm bịp” ở đám biền thí thời bom đạn…”; nhưng rồi “chỉ một lời đồn thổi bá vơ, người săn đuổi và tận tuyệt nòi bìm bịp, ngâm rượu tráng dương bổ thận…” nên khi tác giả “trở về khu vườn nhà ngoại sau bao năm đi xa… chỉ nghe tiếng lá rơi trên thềm nhà cũ. Cầu ao, bến nước, bãi biển… còn nằm trơ đó, bìm bịp thì tuyệt chủng rồi!”

    Có lẽ không phải ngẫu nhiên TBĐ lấy tên người vợ hiền Lê Kim Phượng ghi dưới loạt truyện CPN khi đăng trên “Kiến thức ngày nay”. Thực ra, cả tập truyện là tiếng kêu của Đất Mẹ nhẫn nhục và bao dung như TBĐ đã miêu tả chuyện “má con cô Hai” bị giặc giết cùng con sáo trâu biết nói tiếng người thời Thủ khoa Huân khởi nghĩa (truyện “Miếu sáo trâu”). Trong CPN, rất nhiều lần người mẹ phải lên tiếng kêu cứu cho đàn chim, cũng là lời dạy nhân nghĩa đối với tuổi thơ còn dại dột. “Tôi bị má đánh đòn khi bắn thằng chái rớt bến sông. Sao con cướp đi sự sống của nó? Rồi ai cướp sự sống của con?...” (Truyện “Cánh chim thằng chài” - tức là chim bói cá).

    Một cách khái quát hơn, trong truyện “Cú Mèo - chúa tể đêm”, TBĐ đã viết: “…Trời sinh muôn loài chắc là chẳng phải để giỡn chơi. Nếu chẳng phải để giỡn chơi, chắc trời ban mỗi loài có một giá trị về sinh thái và, nó cũng chẳng thể tách rời cả hệ sinh thái trong trời đất. Người “nhân danh” sự sống của mình, thay đổi hệ sinh thái thì chính sự thay đổi ấy sẽ từng bước cướp đi sự sống con người. Tàn sát chim cú mèo, vô tình người đứng về phía chuột, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho giống nòi chuột nhanh chóng sinh sôi nẩy nở…”.

    Tuy không phải là chủ đề của cuốn sách, nhưng nhân nhắc đến chim Cú Mèo, tưởng cũng nên gỡ mối oan, đồng thời là sự mê tín cả tin của không ít người rằng tiếng cú báo điềm gở, chết chóc. Hãy nghe TBĐ thuật lại lời của “bác Hai ở Cần Thơ”: “Ở đâu đêm tối có chuột, có cú mèo… Tiếng nó kêu giữa đêm trường mù mù tăm tăm đó là tiếng gọi bạn tình… Tùy bóng đêm và tùy tình huống săn bắt con mồi mà nó “rung cây nhát khỉ” qua tiếng kêu phát ra nhiều loại âm thanh: Rit, hét, gầm gừ… Con mồi nghe âm thanh cú kêu khiếp sợ rời chỗ núp, chạy trốn. Cú chờ có vậy và con mồi nạp mạng!”

    Bạn hãy tin lời “bác Hai” (cũng là lời TBĐ), khi ông “viết như là một liệu pháp để vượt qua những cơn đau của chứng bệnh nan y, quái ác…“vét cạn lòng, nạo khô dạ” thành câu chữ “vàng ròng Nam Bộ” …” (Hàn Tấn Quang) không chỉ mang đậm triết lý nhân sinh mà nhiều trang miêu tả chi tiết các loài chim, từ màu lông ở khóe mắt, hình thù các ngón chân… cho đến điệu hót gọi bạn tình, một cách tỉ mỉ, sáng rõ và sinh động, có lẽ các thầy giáo dạy sinh vật cũng… chào thua!

    Bây giờ, xin nhắc thêm một câu nữa của Hàn Tấn Quang: “Hãy lần giở từng trang sách và đọc đi bạn…”.

 

NGUYỄN KHẮC PHÊ

 

(Đọc Chim phương Nam, tạp bút của Trần Bảo Định, Nxb. Văn hóa - Văn nghệ TP. HCM, 2017).

TPHCM, 4/6/2021.

 

NGƯỜI SƯU TẦM: TRƯƠNG HOÀNG LONG

DIỄN NGÔN VỀ GIỚI TRONG VÍ, GIẶM NGHỆ TĨNH (TRƯỜNG HỢP BÀI HÁT GIẶM EM KHUYÊN CHỊ)

 



Tóm tắt: Bài hát giặm Em khuyên chị ra đời trong phong trào vân động duy tân đầu thế kỷ XX, đối tượng là nữ giới trung lưu, nhằm thức tỉnh kêu gọi họ học tập để vượt ra giới hạn của lề lối cũ, từ đó tăng thêm cơ hội tiếp cận với thời đại mới văn minh tiến bộ. Do vậy, bài hát giặm Em khuyên chị là một diễn ngôn về giới cổ súy giải phóng cá nhân. Hướng tới hành động để giải phóng nữ giới khỏi tư tưởng phong kiến, giải phóng tiềm lực sức lao động, trí tuệ của con người. Em khuyên chị là diễn ngôn tạo lập vị thế xã hội, vai trò xã hội, chức năng xã hội mới cho giới nữ. Đó chính là mẫu hình người phụ nữ lập thân, điều chỉ có ở nam giới, vốn dĩ dành/ thuộc nam giới, thì nay nữ giới phải hướng tới để có được và xứng tầm với thời cuộc.

Từ khóa: văn học và giới, Ví Giặm Nghệ Tĩnh, hát giặm, Em khuyên chị


1. Bài hát giặm Em khuyên chị ra đời khoảng những năm đầu thế kỷ XX trong các phong trào tuyên truyền vận động duy tân của giới nữ. Nội dung nổi bật thực hiện nam nữ bình quyền, phụ nữ Việt Nam tự cường để bằng với phụ nữ các nước văn minh, làm được điều đó biện pháp duy nhất đúng đó là nâng cao năng lực bản thân tập trung học tập, biết chữ viết, biết đọc báo, biết lịch sử dân tộc, biết thời sự trong và ngoài nước, mục đích chính là cần bằng với nam giới trong việc luận bàn tham gia việc làng việc nước.

Tham gia các hoạt động xã hội, luận bàn về chính sự, cụ thể là việc cứu nước, đó là cách để phụ nữ An Nam khẳng định vị thế, vai trò xã hội của họ. Từ chối sự lệ thuộc vì u muội, mù chữ, không được học hành.

Bài hát giặm Em khuyên chị miêu tả rất rõ quá trình người phụ nữ đi từ cái riêng đến cái chung, từ cá nhân đến cộng đồng, từ đơn lẻ đến số đông, từ phụ thuộc đến tự do; từ đó sự xác lập vị thế xã hội, vai trò xã hội và chức năng xã hội mới của người phụ nữ ngay trong lòng nhà nước phong kiến thực dân.

Tác phẩm tương truyền của tác giả Ngô Đức Kế3, đây là bài hát được lưu hành phổ biến lúc bấy giờ ở vùng Nghệ Tĩnh và Việt kiều ở Thái Lan.

2. Trong bài hát giặm Em khuyên chị có những motif quen thuộc về người phụ nữ trong xã hội phong kiến, ta vẫn bắt gặp trong các tác phẩm văn học thời kỳ này như kiểu người phụ nữ yếu thế lệ thuộc, bị mất quyền tham gia xã hội (không được đi học chữ, không được làm việc trong bộ máy nhà nước, không có thu nhập...) điểm mới tại đây là đã hình thành hai dạng thức khác về giới đó là kiểu người phụ nữ nhận thức về vấn đề giới, và kiểu người phụ nữ lập thân.

Kiểu người phụ nữ yếu thế lệ thuộc:

Hình ảnh người phụ nữ đầu thế kỷ XX được khắc họa với vị thế và vai trò xã hội lệ thuộc, mất tự chủ, bị gán ghép chức năng nội trợ, đó là: “Phận liễu bồ khôn xiết”, “Chịu thua kém trăm bề”, “Lại nhiều điều cực khổ”, “Chị em mình đày đọa”, “Chịu trăm đường thua thiệt”. Định kiến xã hội đẩy giới nữ về phía yếu thế, tước bỏ tất cả các cơ hội tiếp cận vấn đề xã hội, cơ hội được học tập, cơ hội tham gia việc công.

Sinh ra gái Nam – Việt

Chịu thua kém trăm bề

Chỉ điểm phấn trau huê

Làm đồ chơi cho họ

Làm đồ dùng cho họ.

Phụ nữ An Nam thời kỳ này mặc định làm nội trợ, không có thu nhập từ công việc của mình, với thân phận lệ thuộc vào người đàn ông (cha, chồng, con), bị gán cho những việc tỏn mọn, bếp núc hạn hẹp :

Lại nhiều điều cực khổ

Việc rửa đọi quét nhà

Việc nấu nướng củi trà

Đem thân ta đày đọa

Chị em mình đày đọa.

Nhiều tác phẩm văn học khác đã khắc họa rõ nét về hình ảnh người phụ nữ An Nam thời kỳ này, do vậy trong bài hát giặm Em khuyên chị việc trình bày chân dung kiểu người phụ nữ lệ thuộc điều đó không mới, chỉ nhằm tô đậm thêm một kiểu thân phận nạn nhân của định kiến giới.

Kiểu người phụ nữ nhận thức về giới:

Trước hết là sự nhận thức về nguyên nhân, bắt đầu từ quan niệm khinh nữ, coi nhẹ nữ giới, không dành quyền ưu tiên cho giới nữ “Chỉ trọng lấy con trai/ Mà khinh thường con gái”, từ tư tưởng hủ lậu này người phụ nữ đã bị xác lập vị thế rất yếu so với con trai, mất hoàn toàn các cơ hội tiếp cận thông tin, cơ hội công việc, cơ hội nâng cao năng lực cá nhân và từ đó bị rơi vào hoàn cảnh thụ động “Để đàn ông đè nén”:

Nghề vá may bông vải

Họ bày đặt cho mình

Đường chữ nghĩa học hành

Nào có ai giáo dục?

Nên sách không biết đọc

Cầm lấy báo không hay

Chỉ mờ mịt đêm ngày

Ta phải tính sao đây

Lẽ nào thân thế mãi!

Theo đó, người phụ nữ ít hiểu biết, không có chữ nghĩa, không được học hành, đào tạo, vai trò xã hội vì thế cũng mất đi. Những vấn đề thuộc cộng đồng xã hội người nữ không được tham gia luận bàn, can dự. Ngoài định kiến giới, thì vấn đề cốt lõi chính là phụ nữ không được tiếp cận với hoạt động xã hội dẫn đến kiến thức không sâu, kinh nghiệm kỹ năng và bản lĩnh đều không bằng nam giới là những người quen việc thạo việc chiếm giữ việc công chưa từng nhượng bộ:

Việc họ hàng làng xã

Việc tổng mạc nước non

Việc xã hội luận bàn

Sao mà ta không biết?

Chị em mình không biết?

Người phụ nữ bị định kiến giới chi phối, bị soi chiếu bởi các lề thói ràng buộc hàng ngàn năm. Do đó điều quan trọng là nữ giới phải nhận thức lại thật đầy đủ về vấn đề giới. Trong đó, đặc biệt quan trọng là nhận thức về giới nữ trong tương quan với nam giới, trước hết là sự bình đẳng của phụ nữ với đàn ông về mặt sinh học:

Chị sao không nghĩ lại

Thân gái cũng như trai:

Cũng chín tháng mười ngày

Đủ tai mắt chân tay

Nào có kém chi ai

Để đàn ông đè nén

Trong bài có đưa ra những so sánh bước đầu với phụ nữ các nước văn minh, được xem là sự chọn lựa chuẩn mực cho mẫu hình người phụ nữ hiện đại, mô hình nhân cách cần xây dựng và hướng tới:

Nay xem qua bốn biển

Gái các nước văn minh

Cũng bố trận bài binh

Cũng đủ nghề thao lược.

Cũng nghị bàn việc nước

Có thua kém chi trai

Chị xem đó mà coi

Nỡ ngồi yên sao được.

Qua tân thư truyền bá vào Việt Nam đầu thế kỷ XX phong trào nữ quyền trên thế giới không quá xa lạ với người An Nam, trong đó có phụ nữ trung lưu và thành thị. Phong trào duy tân đã thổi cơn gió lành cho việc giải phóng phụ nữ, mong muốn tạo sự cân đối về nhận thức giới ở thời kỳ này.

Tiếp theo, việc bàn luận và suy tôn các tấm gương nữ trung hào kiệt trong lịch sử dân tộc là “bạn má hồng”, làm việc phi thường, khai thiên lập địa, đánh đuổi ngoại xâm. Đó là mẫu hình lí tưởng thay đổi chức năng xã hội người phụ nữ đã làm những việc lớn lao vì cộng đồng. Đó là những tấm gương sáng trong truyền thống xây dựng đất nước, đánh đuổi giặc ngoại xâm của những nữ nhân nước Việt:

Nước Nam mình ngày trước

Cũng có bạn má hồng

Chị Âu với bà Trưng

Ra chống giữ non sông

Đánh quân Ngô mất vía

Đuổi quân Tàu mất vía.

Sử xanh còn chép để

Nên lấy đó làm gương

Chị ơi phải lo lường

Phải chăm bề học thức.

Minh chứng thuyết phục và gần gũi về những người phụ nữ Việt Nam trong lịch sử như một cách dẫn đường trong tư tưởng, cho sự tự tin mới hình thành vốn bị sự run sợ mấy ngàn năm đè nén. Hình ảnh mẹ Âu Cơ, bà Trưng là biểu tưởng bất tử của dân tộc và mẫu mực cho những người phụ nữ duy tân hướng đến hoàn thiện bản thân mình.

Kiểu người phụ nữ lập thân:

Người phụ nữ duy tân tiến bộ chính là người biết lập thân bằng học vấn, có tri thức, có vị thế xã hội và thay đổi chức năng xã hội về giới. Biện pháp cụ thể đó là tập trung nâng cao năng lực, trau dồi tri thức, tạo nên vẻ đẹp bên trong của người phụ nữ, (học vấn, sách vở báo đồ, chăm coi, học hành). Vẻ đẹp nhân cách, trí tuệ, tri thức làm nên diện mạo mới của người con gái An Nam:

Việc son phấn tô dồi

Phen này quyết xin thôi

Để lo toan việc khác

Để nghĩ bàn việc khác.

Đường trâm xoa hãy gác

Nền học vấn âu lo

Nào sách vở báo đồ

Phải chăm coi mới được

Phải học hành mới được.

Thậm chí phụ nữ sẽ từ bỏ sở thích tính nữ (son phấn tô dồi; trâm xoa) vẻ đẹp bên ngoài, hình thức, xem nhẹ việc phấn son trang điểm để lo toan việc khác, học hành sách vở. Hơn nữa, những việc trong đời người nữ có thể làm được , bằng tri thức và bản lĩnh của họ rất nhiều, từ việc nhỏ quanh mình như “Ai đói rét: thương vay/ Ai gian lao: giúp đỡ” đến gánh vác những “việc gia đình mọi sự, việc xã hội cử bầu”, kể cả san sẻ giúp đàn ông “Dẫu việc gì nặng nhọc/ Trai không thể loa toan” phụ nữ cũng có thể chia sẻ giúp đỡ. Điều đó góp phần khẳng định nữ giới đầy đủ các điều kiện và cơ hội để thực hiện nhiệm vụ như những giới khác, đó chính là sự cộng sinh hoàn tác giữa các thành viên cộng đồng xã hội:

Nền công đức tư đức

Ta xây đắp cho dày

Ai đói rét: thương vay

Ai gian lao: giúp đỡ

Việc gia đình mọi sự

Việc xã hội cử bầu

Chị em ta khuyên nhau

Chia một phần gánh vác.

Dẫu việc gì nặng nhọc

Mà công đức vẹn toàn

Trai không thể lo toan

Gái ra tay giúp họ

Chị em mình giúp họ.

Dấu ấn thời đại trong bài thể hiện khá rõ nét, sự ảnh hưởng của “mưa Âu gió Mỹ” qua tân thư Trung Quốc đối với trí thức tây học thời kỳ này và hướng họ đến cách tân đổi mới trong tư duy và hành động. Xây dựng vị thế xã hội người phụ nữ xứng tầm thời đại mới, đó là các bậc “liệt nữ”, “tài tử”, “anh hùng” với dáng vẻ và tâm thức rất đặc biệt “Khách tài tử không râu”, “Bạn anh hùng có ướm” ... có thể nói khát vọng đó thật vang dội mạnh mẽ, có thể thấy ở những câu thơ sau đây:

Nay thời đại văn minh

Quyết phấn trang nữ giới

Quyết thi tài nữ giới.

Vang lừng khắp hoàn hải

Cờ nữ liệt đâu đâu

Khách tài tử không râu

Bạn anh hùng có ướm.

Từ nhận thức về giới đến thay đổi vị thế, vai trò và chức năng nữ giới trong xã hội nhằm hướng đến sự mưu cầu bình đẳng, thay đổi cách nhìn nhận đánh giá của xã hội (bọn mày râu) về giới nữ:

Mấy lời em đàm đạo

Bạn gái tỉnh mau mau

Làm cho bọn mày râu

Không dám khinh ta nữa.

Nhận thức về giới và hành động thực hiện công bằng giới ở đây mới chỉ dừng lại ở việc nêu lên giải pháp thực hiện (học hành, đọc sách báo) nâng cao tri thức nhằm để xã hội công nhận xóa bỏ định kiến giới. Mà chưa chỉ rõ con đường tham gia hội đoàn như những bài sau này (ví dụ như bài giặm Vận động phụ nữ cứu nước4). Mặt khác trong sự tương quan giữa vẻ đẹp hình thức bên ngoài và vẻ đẹp tri thức bên trong, nhấn mạnh giá trị của trí tuệ và từ bỏ giá trị còn lại, suy cho cùng là thiên lệch, từ bỏ thiên tính nữ thuộc về thế mạnh bản sắc giới để theo đuổi đánh đổi chưa thực sự thuyết phục và không có ý nghĩa toàn vẹn trong việc xây dựng hình ảnh người phụ nữ mới.

3. Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh là những sáng tác độc đáo của người bản địa thuộc hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, có nguồn gốc từ lao động sản suất gắn với các ngành nghề như nuôi tằm dệt vải, trồng lúa, lấy củi, đi buôn, chèo thuyền... nhằm vơi đi nỗi mệt nhọc trong lao động và để giao lưu kết nối với các nhóm người đồng dạng về nghề nghiệp từ đó hình thành các phường hát thu hút người xem, người nghe vùng phụ cận. Trong quá trình phát triển, Ví, Giặm Nghệ Tĩnh cải biến theo sự thay đổi của đời sống xã hội, phục vụ thị hiếu và nhu cầu thưởng thức của công chúng, điều này thấy rõ nhất là các bài hát giặm rất phổ biến trong việc tuyên truyền cách mạng, vận động nhân dân chống giặc cứu nước. Điều đó giải thích vì sao phong trào cách mạng ở Nghệ Tĩnh lên đến đỉnh cao, đặc biệt cần nói đến sự kiện Xô viết 1930- 1931. Một trong nhiều nguyên nhân chính là công tác tuyên truyền sâu rộng và tinh thần hiệp đoàn chiến đấu trong nhân dân, trong đó họ đã dùng hát giặm để sáng tác các bài cổ động tuyên truyền, dễ nhớ dễ thuộc, truyền miệng khắp vùng miền.

Qua bài hát giặm Em khuyên chị chúng ta rút ra một số điểm quan trọng về về vấn đề giới trong Ví Giặm Nghệ Tĩnh:

Trước hết, việc tuyên truyền duy tân là mục tiêu ban đầu của bài hát Giặm, đối tượng là nữ giới trung lưu, nhằm thức tỉnh kêu gọi họ học tập để vượt ra giới hạn của lề lối cũ, từ đó tăng thêm cơ hội tiếp cận với thời đại mới văn minh tiến bộ. Do vậy, bài hát giặm Em khuyên chị là một diễn ngôn về giới cổ súy giải phóng cá nhân. Hướng tới hành động để giải phóng nữ giới khỏi tư tưởng phong kiến, giải phóng tiềm lực sức lao động, trí tuệ của con người.

Bài hát giặm Em khuyên chị là diễn ngôn tạo lập vị thế xã hội, vai trò xã hội, chức năng xã hội mới cho giới nữ. Đó chính là mẫu hình người phụ nữ lập thân, điều chỉ có ở nam giới, vốn dĩ dành cho nam giới, thì nay nữ giới phải hướng tới để có được và xứng tầm với thời cuộc.

Cải tạo xã hội mà cụ thể là nâng cao vị thế, năng lực, vai trò chức năng của giới nữ hướng tới giải phóng con người cá nhân hữu ích với cộng đồng dân tộc, trường hợp bài hát giặm Em khuyên chị5 là một biểu hiện tiêu biểu về vấn đề giới trong dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh.

 

Tài liệu tham khảo

[1]  Nguyễn Chung Anh, Hát Ví Nghệ Tĩnh, NXB Văn sử địa, 1962.

[2]  Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao, Hát Giặm Nghệ Tĩnh (quyển 2), NXB Sử học, Viện Sử học, 1962.

[3]  Ninh Viết Giao, Hát phường vải, Nxb Văn hóa Thông tin, 2002.

[4]  Ninh Viết Giao, Kho tàng vè xứ Nghệ, Nxb Nghệ An, 1999.

[5]  Thanh Lưu - Lê Hàm - Vi Phong, Âm nhạc dân gian xứ Nghệ, Nxb Âm nhạc, 1994.

[6]  Sở Văn hóa Thể thao & Du lịch Nghệ An, Tuyển tập dân ca xứ Nghệ, Nxb Nghệ An, 2012.

[7]  Sở VHTT&DL Nghệ An, Bảo tồn và phát huy các giá trị dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ, Nxb Nghệ An, 2012.

 

 

Chú thích

Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao, Hát Giặm Nghệ Tĩnh (quyển 2), NXB Sử học, Viện Sử học, 1962, trang 147.

TS, Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Nghệ An. Email: phamthucchi@gmail.com
Ngô Đức Kế (1878-1929) tên tự là Tập Xuyên, quê xã Trảo Nha, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Ông đỗ tiến sĩ nhưng không làm quan, chỉ nhờ tiếp xúc tân thư mà tiếp thu tư tưởng mới. Ông là người hăng hái trong phong trào Đông Du và Duy tân. Ông bị thực dân Pháp buộc tội và đầy ra đảo Côn Lôn (1908), được thả năm 1921. Sau đó ông ra Hà Nội và tham gia viết báo Hữu Thanh, là một cây bút xuất sắc nổi tiếng.

4 Bài “Vận động phụ nữ cứu nước” ra đời thời kỳ mới giành chính quyền ở Nghệ Tĩnh sau cách mạng tháng 8. Trong đó có nhiều nội dung mới và cụ thể, như khuyến khích phụ nữ tham gia hội đoàn, mặt trận Việt Minh, du kích nữ binh...

5 Bài hát giặm Em khuyên chị được in lần đầu trên báo Tiếng Dân, tháng 8.1929.


TPHCM, 4/6/2021.


 SƯU TẦM: TRƯƠNG HOÀNG LONG

VĂN HOÁ GIAO TIẾP của NGƯỜI NAM BỘ qua TIỂU THUYẾT HỒ BIỂU CHÁNH – MỘT GÓC NHÌN                                                             ...